Tài liệu Bồi dưỡng chuyên đề Phát triển chương trình giáo dục năm 2017
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu Bồi dưỡng chuyên đề Phát triển chương trình giáo dục năm 2017", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
tai_lieu_boi_duong_chuyen_de_phat_trien_chuong_trinh_giao_du.docx
Nội dung tài liệu: Tài liệu Bồi dưỡng chuyên đề Phát triển chương trình giáo dục năm 2017
- MỤC LỤC Chủ đề 1. TỔ CHỨC PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH NHÀ TRƯỜNG, CHƯƠNG TRÌNH MÔN HỌC/HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC....................................3 1. Một số khái niệm cơ bản.......................................................................................3 1.1. Chương trình giáo dục ....................................................................................3 1.2. Khái niệm CTNT..............................................................................................6 1.3. Khái niệm chương trình môn học...................................................................7 1.4. Khái niệm PTCT..............................................................................................8 1.5. Phát triển chương trình nhà trường ...............................................................8 2. Phát triển chương trình nhà trường....................................................................9 3. Phát triển chương trình môn học ......................................................................13 4. Phát triển chương trình hoạt động giáo dục.....................................................13 4.1. Hoạt động giáo dục trong chương trình giáo dục phổ thông.......................13 4.2. Thiết kế chương trình, nội dung hoạt động giáo dục...................................18 Chủ đề 2. CHỈ ĐẠO TỔ CHUYÊN MÔN THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 ...............................................................................27 1. Chỉ đạo của Hiệu trưởng trường phổ thông .....................................................27 1.1. Chỉ đạo tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch..................................................27 1.2. Chỉ đạo việc thực hiện kế hoạch của tổ chuyên môn...................................28 1.3. Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch của tổ chuyên môn .................29 1.4. Một số biện pháp Hiệu trưởng quản lý hoạt động của tổ chuyên môn thực hiện chương trình giáo dục phổ thông ................................................................30 2. Hoạt động của tổ chuyên môn............................................................................31 2.1. Xây dựng kế hoạch hoạt động của tổ chuyên môn.......................................31 2.2. Tổ chức các hoạt động dạy học và HĐGD....................................................40 2.3. Hỗ trợ phát triển năng lực nghề nghiệp, năng lực nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng cho giáo viên..............................................................................45 2.4. Hỗ trợ giáo viên thiết kế bài học, thực hiện đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của HS và hoạt động dạy học và giáo dục của giáo viên ..........................48 2.5. Tạo lập môi trường tự học, tự bồi dưỡng và hợp tác chia sẻ của giáo viên và phụ huynh.............................................................................................................52 TÀI LIỆU THAM KHẢO .........................................................................................57 1
- KÍ HIỆU VIẾT TẮT Từ viết tắt Nghĩa đầy đủ TCM Tổ chuyên môn TTCM Tổ trưởng chuyên môn GV Giáo viên HS Học sinh GDPT Giáo dục phổ thông CTPT Chương trình phổ thông PPDH Phương pháp dạy học PTCT Phát triển chương trình CTNT Chương trình nhà trường NL Năng lực PC Phẩm chất HĐGD Hoạt động giáo dục THPT Trung học phổ thông THCS THCS 2
- Chủ đề 1 TỔ CHỨC PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH NHÀ TRƯỜNG, CHƯƠNG TRÌNH MÔN HỌC/HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC 1. Một số khái niệm cơ bản 1.1. Chương trình giáo dục 1.1.1. Khái niệm chương trình giáo dục Khái niệm chương trình giáo dục (Curriculum) đã có một lịch sử phát triển khá lâu dài (từ năm 1820) và cho đến nay, trong lí luận giáo dục học đã tồn tại nhiều định nghĩa, quan niệm khác nhau về khái niệm này. Vào những năm đầu của thế kỷ XX, những quan niệm truyền thống cho rằng chương trình giáo dục là toàn bộ nội dung chính của các môn học hay sự chuẩn bị các nội dung môn học của GV để giúp người học bắt tay vào học tập. Hầu hết các quan điểm truyền thống xem chương trình giảng dạy như các tài liệu văn bản hay một kế hoạch hành động trong việc hoàn thành mục tiêu dạy học. Có thể thấy, những định nghĩa truyền thống đã bộc lộ những hạn chế khi mà khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ đã chỉ ra kiến thức không chỉ nằm trong phạm vi tài liệu in ấn hoặc xác định cái gì giúp phát triển NL con người không phải dễ dàng. Chương trình giáo dục luôn thay đổi do tác động của xã hội với những bước tiến khổng lồ về khoa học kĩ thuật và công nghệ. Cho đến nay, vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau trong việc định nghĩa về chương trình giáo dục: Smith, Stanley và Shores xác định chương trình giáo dục như là một “chuỗi các trải nghiệm được thiết lập trong các trường học với mục đích đặt người học vào những suy nghĩ và hành động học tập”. Ralp Tyler (1949) khi ông cho rằng: chương trình giáo dục về cấu trúc phải có 4 phần cơ bản: 1- Mục tiêu giáo dục; 2- Nội dung giáo dục; 3- Phương pháp hay quy trình giáo dục; 4- Cách đánh giá kết quả giáo dục. Theo đó, chương trình giáo dục là một thiết kế thể hiện tổng thể các thành phần của quá trình giáo dục, điều kiện, cách thức, quy trình tổ chức, đánh giá các HĐGD để đạt được mục tiêu giáo dục. Olivia (1997) nêu quan điểm chương trình giáo dục có thể chứa đựng các nội dung sau: - Những gì được giảng dạy trong nhà trường; 3
- - Nội dung cần học; - Chương trình học tập; - Hệ thống các tài liệu học tập; - Chuỗi các môn học; - Hệ thống các mục tiêu đào tạo/dạy học; - Những gì được diễn ra trong nhà trường và gồm các hoạt động ngoại khóa; - Nội dung được dạy bên trong và ngoài nhà trường... Có thể nhận thấy sự thay đổi mang tính căn bản nhất trong quan niệm về chương trình giáo dục từ truyền thống sang hiện đại là sự chuyển đổi từ chương trình theo hướng lấy môn học làm trung tâm sang lấy người học làm trung tâm. Bên cạnh đó không nhấn mạnh ở nội dung mà nhấn mạnh kiến thức, kỹ năng mà người học có được (hình thành NL). Ở Việt Nam, GS Nguyễn Đức Chính, cho rằng: “Chương trình giáo dục là kế hoạch tổng thể, hệ thống về toàn bộ HĐGD tại nhà trường. Nó bao gồm mục đích giáo dục, mục tiêu, chuẩn đầu ra, nôi dung giáo dục (với độ rộng và sâu tương ứng với chuẩn đầu ra), phương thức giáo dục và hình thức tổ chức giáo dục (với các phương pháp, phương tiện, công cụ dạy học phù hợp), phương thức đánh giá kết quả giáo dục (trong so sánh, đối chiếu với chuẩn đầu ra của chương trình”1. Luật Giáo dục (sửa đổi năm 2009) ghi rõ: chương trình giáo dục được hiểu là “văn bản chính thức quy định mục đích, mục tiêu, yêu cầu nội dung kiến thức và kĩ năng, cấu trúc tổng thể các bộ môn, kế hoạch lên lớp, thực tập theo từng năm học, tỉ lệ giữa các bộ môn, giữa lý thuyết và thực hành, quy định phương thức, phương pháp, phương tiện, cơ sở vật chất, chứng chỉ văn bằng tốt nghiệp của cơ sở giáo dục”. Khoản 1, Điều 8, Luật Giáo dục (2019): “Chương trình giáo dục thể hiện mục tiêu giáo dục; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, yêu cầu cần đạt về PC và NL của người học; phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục; phương pháp và hình thức tổ chức HĐGD; cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp học, mỗi cấp học hoặc các môn học, mô-đun, ngành học đối với từng trình độ đào tạo”. Mặc dù có những quan điểm khác biệt nêu trên nhưng về cơ bản hiện nay chương trình giáo dục được xem như là tập hợp các mục tiêu và giá trị có thể được hình thành 1 Nguyễn Đức Chính, Phát triển CTGD 2017 4
- ở người học thông qua các hoạt động được kế hoạch hoá và tổ chức trong nhà trường, gắn liền với đời sống xã hội. Mức độ đạt các mục tiêu ấy là thể hiện tính hiệu quả của một chương trình giáo dục. Mục đích của việc thiết kế một chương trình giáo dục phụ thuộc vào đối tượng người học. 1.1.2. Phân loại chương trình giáo dục Chương trình giáo dục có thể chia ra làm nhiều cấp độ. Chương trình GDPT có 3 cấp độ: - Chương trình quốc gia: Đây là cấp độ thứ nhất của chương trình giáo dục. Chương trình quốc gia còn được gọi là chương trình khung hay chương trình cốt lõi (core curriculum) quy định mục tiêu giáo dục, kiến thức, kỹ năng và nội dung cơ bản của các môn học trong CTPT. - Chương trình địa phương: Là cấp độ thứ hai của chương trình giáo dục. Chương trình cốt lõi này được cụ thể hóa và phát triển thêm lên ở cấp độ thứ hai là cấp độ tỉnh và thành phố (manicipal curriculum). Mỗi vùng miền có đặc điểm địa lý, chính trị, văn hóa, giáo dục riêng nên thời lượng và nội dung của một số môn học cũng có những điểm chú trọng riêng. - CTNT: Là cấp độ thứ ba của chương trình giáo dục. CTNT (school curriculum) là cấp độ cuối cùng và quan trọng nhất, bởi vì tới cấp độ này, chương trình giáo dục được xác định chính xác hóa, cụ thể hóa nhất sẵn sàng đưa vào sử dụng. Chương trình cấp quốc gia bao gồm các yếu tố cơ bản (nguyên tắc của việc học tập, mục đích, mục tiêu giáo dục) mà tất cả các trường ở quốc gia đó cần phải tuân theo. Chương trình giáo dục quốc gia cũng có thể được gọi là chương trình khung, gồm chuẩn đầu ra và một số môn học bắt buộc đối với HS của một hệ thống trường. Các môn học này được coi là cốt lõi, ít thay đổi theo thời gian và được đa số các cơ sở giáo dục trong khối ngành (vùng, miền) thừa nhận là không thể thiếu được. Ở nước ngoài, chương trình khung ở phổ thông thường do Bộ GD&ĐT hoặc các cơ quan quản lí giáo dục soạn thảo. Ở bậc đại học, mỗi trường cao đẳng hoặc đại học tự quyết định các chương trình khung của mình, đặc biệt là ở khối ngành nghệ thuật. Nhưng do mức độ chuyên môn hóa sâu của từng lĩnh vực giáo dục nên các môn học bắt buộc trong chương trình khung ở bậc đại học chiếm tỷ lệ nhỏ hơn trong khóa học của HS so với chương trình khung được thiết kế ở bậc phổ thông. 5
- Căn cứ vào chương trình khung này mà các trường PTCT giáo dục của trường mình bằng việc thêm những môn học chuyên sâu, đặc trưng cho từng địa phương, nhà trường và người học. Việt Nam, chương trình khung là một chương trình hay một khóa học bắt buộc đối với mọi HS của cùng một trường hoặc một hệ thống trường. Chương trình cốt lõi ở bậc tiểu học và trung học thường do Bộ GD&ĐT hoặc các cơ quan quản lý giáo dục soạn thảo. Như vậy, với định nghĩa chung như trên về chương trình cốt lõi, ta có thể thấy, đặc điểm chung của chương trình cốt lõi là bao gồm những môn học bắt buộc được coi là cốt lõi, ít thay đổi theo thời gian và được đa số các cơ sở đào tạo trong khối ngành thừa nhận là không thể thiếu được. Ở cấp độ nhà trường, chương trình bao gồm những thách thức mà một nhà trường đưa chương trình quốc gia vào ứng dụng thực tế. 1.2. Khái niệm chương trình nhà trường Để xác định khái niệm CTNT trước hết cần phân biệt các khái niệm có liên quan. Có thể hiểu chương trình khung là khung kế hoạch giáo dục đề cập đến những yếu tố dạy và học cơ bản mang tính quốc gia mà các cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân cần phải tuân thủ. Chương trình khung nêu rõ những định hướng mang tính nguyên tắc cho các hoạt động dạy và học; xác định các lĩnh vực học tập cơ bản, trong đó mô tả những kiến thức; và các kĩ năng cơ bản mà HS cần có; xác định rõ PC và thái độ cần hình thành ở HS; khẳng định các tuyên bố có tính quốc gia về mức độ của các kiến thức, kĩ năng và thái độ HS cần đạt được (ta thường hiểu đó Chuẩn về kiến thức, kĩ năng, thái độ) và phác thảo các hình thức đánh giá ở cấp trường và cấp quốc gia” . Trên cơ sở chương trình khung, các cơ sở giáo dục (nhà trường) tổ chức xây dựng những chương trình chi tiết hay còn gọi là CTNT. Đây là bản thiết kế chi tiết quá trình giảng dạy của nhà trường trong một khoá học, năm học phản ánh cụ thể mục tiêu, nội dung, cấu trúc, trình tự cách thức tổ chức thực hiện và kiểm tra đánh giá các HĐGD, dạy học cho toàn khoá học và cho từng môn học, phần học, chương, mục và bài giảng của nhà trường đó. “CTNT bao gồm những cách thức nhà trường thực hiện các tuyên bố trong chương trình quốc gia. Chương trình đó có tính đến nhu cầu, ưu tiên, các nguồn lực của địa phương và được thiết kế với sự tham gia của cộng đồng nhà trường”2. 2 MOE. 1993, tr.4. 6
- Theo quan điểm của Bộ Giáo dục New Zealand “CTNT bao gồm cách thức mà một nhà trường đặt ra trong thực tiễn các chính sách đề ra trong các báo cáo chương trình quốc gia. Các vấn đề về nhu cầu, ưu tiên và các nguồn lực địa phương được thiết kế với sự tham vấn của cộng đồng nhà trường”. Như vậy, CTNT được hiểu là sự tự chủ của nhà trường trong vấn đề PTCT, bao gồm những cách thức mà một nhà trường đưa chương trình quốc gia vào ứng dụng thực tế. CTNT gắn liền với nhu cầu của từng địa phương, những ngành nghề ưu tiên và nguồn lực. Nó được thiết kế theo sự tư vấn của hội đồng trường cho các nhà trường phổ thông trong việc PTCT giáo dục. 1.3. Khái niệm chương trình môn học Chương trình môn học là văn bản xác định vị trí, vai trò môn học và hoạt động giáo dục trong thực hiện mục tiêu giáo dục phổ thông, mục tiêu và yêu cầu cần đạt, nội dung giáo dục cốt lõi của môn học và hoạt động giáo dục ở mỗi lớp học hoặc cấp học đối với tất cả học sinh trên phạm vi toàn quốc, định hướng kế hoạch dạy học môn học và hoạt động giáo dục ở mỗi lớp và mỗi cấp học, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục, đánh giá kết quả giáo dục của môn học và hoạt động giáo dục. Chương trình môn học là cơ sở để biên soạn sách giáo khoa, tài liệu học tập cho môn học. Cùng với Chương trình tổng thể, Chương trình môn học còn là căn cứ để biên soạn nội dung giáo dục địa phương và xây dựng kế hoạch giáo dục nhà trường. Về định hướng phát triển năng lực và phẩm chất cho người học, Chương trình môn học cụ thể hóa năng lực đặc thù tương ứng đã nêu trong Chương trình tổng thể dưới dạng khung năng lực môn học. Đây là một trong những cơ sở để lựa chọn nội dung giáo dục, biên soạn các yêu cầu cần đạt cho các nội dung cụ thể ở từng lớp trong Chương trình môn học. Bên cạnh đó, Chương trình môn học cần xác định cơ hội góp phần và phương pháp hình thành và phát triển phẩm chất chủ yếu (yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm) và năng lực chung cốt lõi (tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo). CTGDPT 2018 có 20 chương trình môn học, hoạt động giáo dục. Trừ môn ngoại ngữ có nhiều chương trình, 19 chương trình môn học, hoạt động giáo dục gồm: ngữ văn, toán, giáo dục công dân, tự nhiên và xã hội, lịch sử và địa lí Tiểu học, lịch sử và địa lí THCS, lịch sử, địa lí, khoa học, khoa học tự nhiên, vật lí, hóa học, sinh học, công nghệ, tin học, âm nhạc, mĩ thuật, giáo dục thể chất, hoạt động trải nghiệm. 7
- 1.4. Khái niệm phát triển chương trình Cũng giống như khái niệm “chương trình giáo dục”, khái niệm “PTCT” luôn có nhiều quan điểm, cách tiếp cận khác nhau. Để đảm bảo tính hiệu quả, chương trình giáo dục cũng cần được thiết kế, điều chỉnh sao cho phù hợp với sự thay đổi của xã hội, địa phương, nhà trường và người học. PTCT giáo dục là một quá trình liên tục nhằm hoàn thiện không ngừng chương trình giáo dục cho tương thích với trình độ phát triển của kinh tế - xã hội, khoa học và công nghệ, của đời sống xã hội nói chung. Theo quan điểm này, chương trình giáo dục là một thực thể không phải được thiết kế một lần và dùng cho mãi mãi mà được phát triển, bổ sung, hoàn thiện tuỳ theo sự thay đổi của trình độ phát triển kinh tế - xã hội, của thành tựu khoa học - kĩ thuật và công nghệ, và cũng là theo yêu cầu của thị trường sử dụng lao động. PTCT giáo dục là quá trình biên soạn (hay xây dựng) tất cả các môn học trong một khóa học cụ thể. Nó bao gồm các hoạt động như: thiết kế nội dung, lập kế hoạch, ứng dụng thử nghiệm và nghiên cứu khoa học nhằm đưa ra những chương trình giáo dục mới hoặc cải thiện những chương trình giáo dục đã có. PTCT là một chu trình mà điểm kết thúc sẽ lại là điểm khởi đầu, kết quả là một chương trình giáo dục mới và ngày càng tốt hơn nữa. Có bốn hoạt động chính cần được thực hiện trong PTCT giáo dục đó là: - Xác định người học cần gì hoặc muốn học gì về kiến thức, kỹ năng, thái độ - Xác định hình thức, phương pháp học tập phù hợp và các điều kiện bổ trợ việc học tập. - Tiến hành giảng dạy và đánh giá việc học tập. - Chỉnh sửa chương trình giáo dục thường xuyên sao cho phù hợp với nhu cầu học tập của người học. 1.5. Phát triển chương trình nhà trường Khái niệm “PTCT giáo dục nhà trường” có nhiều cách định nghĩa khác nhau: Theo Bzzina: “PTCT nhà trường là một quá trình trong đó một số hay toàn thể các thành viên trong trường lập kế hoạch, thực thi và/hoặc đánh giá một hay nhiều khía cạnh trong chương trình mà nhà trường đang sử dụng. Đó có thể là sự điều chỉnh chương trình hiện có, chấp nhận không thay đổi, hoặc sáng tạo một chương trình mới. PTCT nhà trường là một nỗ lực tập thể trong khuôn khổ một chương trình khung được 8
- thừa nhận mà không bị ngăn trở bởi bất kì nỗ lực cá nhân của các GV hay nhà quản lí khác”. Skilbeck (1984): PTCT nhà trường là việc một cơ sở giáo dục lập kế hoạch, thiết kế, thực thi và đánh giá chương trình học tập của HS trường mình. Như vậy, có những định nghĩa khác nhau về PTCT nhà trường, có thể hiểu theo định nghĩa của Nguyễn Vũ Bích Hiền “PTCT giáo dục nhà trường được hiểu là quá trình nhà trường cụ thể hóa chương trình giáo dục quốc gia, làm cho chương trình quốc gia phù hợp ở mức cao nhất với thực tiễn của cơ sở giáo dục. Trên cơ sở đảm bảo yêu cầu chung của chương trình giáo dục quốc gia, nhà trường sẽ lựa chọn, xây dựng nội dung và xác định cách thức thực hiện phản ánh đặc trưng và phù hợp với thực tiễn nhà trường nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của người học, thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục”3 . Điểm đổi mới căn bản hiện nay thể hiện trong chương trình GDPT 2018 là chương trình được thiết kế và thực hiện hướng tiếp cận NL HS (Competency-based Curriculum), thay cho cách tiếp cận nội dung như hiện nay. Đây là xu hướng PTCT giáo dục của nhiều nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới đã và đang thực hiện. Tại Việt Nam, Chương trình GDPT 2018 đã lần đầu đề ra những NL chung và NL chuyên môn cụ thể. Tuy nhiên, trong từng giai đoạn học tập sẽ có những chú trọng khác nhau đối với những NL khác nhau. Cấp Tiểu học và THCS cần tập trung phát triển các NL chung; do đó chương trình giáo dục Tiểu học và THCS phải quan tâm nhiều hơn đến việc thiết kế các nội dung, môn học mang tính tích hợp. Lên cấp THPT, bên cạnh việc tiếp tục phát triển những NL chung còn cần phát triển các NL chuyên môn cho nên cùng với dạy học tích hợp, chương trình giáo dục THPT còn phải quan tâm đầy đủ đến những nội dung dạy học mang tính phân hoá và hướng nghiệp cao. 2. Phát triển chương trình nhà trường Nhìn chung, quy trình PTCT nhà trường cần được thực hiện một cách khép kín, liên tục thông qua 6 bước sau đây: 1) Phân tích bối cảnh; 2) Phân tích chương trình hiện hành; 3) Xác định chuẩn kiến thức, kĩ năng môn học; 4)Thiết kế CTNT; 5) Thực hiện CTNT; 6) Đánh giá, điều chỉnh. a) Bước 1: Phân tích bối cảnh cụ thể của nhà trường: 3 Nguyễn Vũ Bích Hiền (2015): PTCT nhà trường GDPT, Nxb Giáo dục Việt Nam. 9
- Đây là việc xác định, xem xét tất cả các yếu tố như: sứ mạng, tầm nhìn của nhà trường, môi trường giáo dục, nguồn nhân lực, đặc điểm kinh tế-xã hội địa phương, đặc điểm HS, cơ sở vật chất, nguồn tài chính, khả năng xã hội hoá giáo dục, xu thế hướng nghiệp của HS v.v. để có thể đưa ra các quyết định thích hợp về mục tiêu, cấu trúc, nội dung của chương trình giáo dục nhà trường. b) Bước 2: Phân tích chương trình GDPT: Chương trình GDPT được ban hành kèm Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Chương trình GDPT được xây dựng theo Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa GDPT, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo và quyết định số 404/QĐ-TTg phê duyệt Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa GDPT của Chính phủ ngày 27 tháng 3 năm 2015. Phân tích chương trình GDPT cần phân tích hai lĩnh vực: - Phân tích, đánh giá khái quát chương trình GDPT: Để việc phân tích, đánh giá khái quát chương trình GDPT đảm bảo tính chính xác, thuyết phục, làm cơ sở cho những định hướng PTCT nhà trường, bên cạnh những phân tích, đánh giá xuất phát từ thực tiễn hoạt động của nhà trường, cần bám sát các văn bản chỉ đạo của các cấp quản lý. - Phân tích, đánh giá cụ thể chương trình các môn học của GDPT: Chương trình GDPT được chia thành hai giai đoạn: giai đoạn giáo dục cơ bản (từ lớp 1 đến lớp 9) và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp (từ lớp 10 đến lớp 12). Hệ thống môn học và HĐGD của chương trình GDPT gồm các môn học và HĐGD bắt buộc, các môn học lựa chọn theo định hướng nghề nghiệp (gọi tắt là các môn học lựa chọn) và các môn học tự chọn. Nội dung giáo dục giai đoạn định hướng nghề nghiệp bao gồm các môn học và HĐGD bắt buộc: Ngữ văn; Toán; Ngoại ngữ 1; Giáo dục thể chất; Giáo dục quốc phòng và an ninh; Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp; Nội dung giáo dục của địa phương. Các môn học lựa chọn gồm 3 nhóm môn: Nhóm môn khoa học xã hội: Lịch sử, Địa lí, Giáo dục kinh tế và pháp luật; Nhóm môn khoa học tự nhiên: Vật lí, Hoá học, Sinh học; 10
- Nhóm môn công nghệ và nghệ thuật: Công nghệ, Tin học, Nghệ thuật (Âm nhạc, Mĩ thuật). HS chọn 5 môn học từ 3 nhóm môn học trên, mỗi nhóm chọn ít nhất 1 môn học. Các chuyên đề học tập: Mỗi môn học Ngữ văn, Toán, Lịch sử, Địa lí, Giáo dục kinh tế và pháp luật, Vật lí, Hoá học, Sinh học, Công nghệ, Tin học, Nghệ thuật có một số chuyên đề học tập tạo thành cụm chuyên đề học tập của môn học nhằm thực hiện yêu cầu phân hoá sâu, giúp HS tăng cường kiến thức và kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học giải quyết những vấn đề của thực tiễn, đáp ứng yêu cầu định hướng nghề nghiệp. Thời lượng dành cho mỗi chuyên đề học tập là 10 tiết hoặc 15 tiết; tổng thời lượng dành cho cụm chuyên đề học tập của một môn học là 35 tiết/năm học. Ở mỗi lớp 10, 11, 12, HS chọn 3 cụm chuyên đề học tập của 3 môn học phù hợp với nguyện vọng của bản thân và khả năng tổ chức của nhà trường. Để việc phân tích, đánh giá cụ thể chương trình các môn học giai đoạn định hướng nghề nghiệp đạt yêu cầu chất lượng, làm cơ sở cho việc điều chỉnh cấu trúc, nội dung các chương trình môn học trong quy trình PTCT nhà trường, nhà trường cần chỉ đạo, tổ chức, lên kế hoạch và thường xuyên kiểm tra, đôn đốc các tổ/nhóm chuyên môn thực hiện nghiêm túc, khoa học việc rà soát nội dung chương trình để phát hiện những nội dung quá khó, trùng lặp, chưa thật sự cần thiết đối với HS; những câu hỏi, bài tập đòi hỏi phải khai thác quá sâu kiến thức lí thuyết; những thông tin cũ, lạc hậu; những nội dung dạy học trùng nhau trong từng môn học và giữa các môn học; những nội dung, bài tập, câu hỏi không phù hợp trình độ nhận thức và tâm sinh lí lứa tuổi HS; những nội dung mà sách giáo khoa sắp xếp chưa hợp lí; những nội dung không phù hợp với địa phương và nhà trường v.v. c) Bước 3: Xác định chuẩn kiến thức, kĩ năng môn học: Trong chương trình GDPT, chuẩn kiến thức, kĩ năng được hiểu là “các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kĩ năng của môn học hoặc HĐGD mà HS cần phải và có thể đạt được, là căn cứ để biên soạn sách giáo khoa, quản lí dạy học, đánh giá kết quả giáo dục ở từng môn học, HĐGD nhằm bảo đảm tính thống nhất, tính khả thi của chương trình GDPT; đảm bảo chất lượng và hiệu quả giáo dục. Xác định chuẩn kiến thức, kĩ năng môn học không phải chỉ đơn thuần nhắc lại những hướng dẫn đã có trong chương trình giáo dục mà là: trên cơ sở những hướng dẫn đó, xác định một cách cụ thể 11
- phương hướng, cách thức, mức độ đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của nhà trường ở hiện tại cũng như trong tương lai”. d) Bước 4: Thiết kế CTNT Việc thiết kế CTNT được thực hiện như sau: Điều chỉnh cấu trúc nội dung dạy học trong chương trình hiện hành và xây dựng kế hoạch giáo dục mới ở từng môn học, HĐGD và của nhà trường cho phù hợp với thực tiễn địa phương, nhà trường, đảm bảo tính khả thi. e) Bước 5: Thực hiện CTNT: Thực hiện Kế hoạch giáo dục theo định hướng phát triển NL HS, tổ chức hoạt động dạy học, giáo dục của nhà trường: - Đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục theo định hướng phát triển NL HS: Vận dụng các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, HĐGD tích cực: Triển khai các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, giáo dục theo hướng phát huy tính chủ động, tích cực, tự học, phát triển NL HS. Các nhiệm vụ học tập có thể được thực hiện ở trong hoặc ngoài giờ lên lớp, ở trong hay ngoài phòng học. Ngoài việc tổ chức cho HS thực hiện các nhiệm vụ học tập ở trên lớp, cần coi trọng giao nhiệm vụ và hướng dẫn HS học tập ở nhà, ở ngoài nhà trường. - Đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục theo định hướng phát triển NL HS. Vận dụng các hình thức kiểm tra, đánh giá theo hướng coi trọng phát triển NL. Kiểm tra, đánh giá không chỉ tập trung vào việc xem HS học cái gì mà quan trọng hơn là kiểm tra HS đó học như thế nào, có biết vận dụng không; kết hợp kết quả đánh giá trong quá trình giáo dục và đánh giá tổng kết cuối kì, cuối năm học. - Đổi mới quản lí hoạt động dạy học, giáo dục nhằm nâng cao hiệu quả PTCT giáo dục nhà trường: + Quản lí hoạt động dạy học, giáo dục theo các quy định hiện hành và theo Kế hoạch giáo dục theo định hướng phát triển NL HS của nhà trường; + Tập trung đổi mới sinh hoạt chuyên môn của tổ/nhóm chuyên môn thông qua hoạt động nghiên cứu bài học. + Tăng cường các hoạt động dự giờ, rút kinh nghiệm để hoàn thiện từng bước cấu trúc nội dung, phân phối chương trình các môn học, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, cách thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS theo định hướng phát triển NL. 12
- + Tăng cường các hoạt động trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm về PTCT giáo dục nhà trường phổ thông thông qua các hình thức tổ chức hội nghị, hội thảo, g) Bước 6: Đánh giá, điều chỉnh - Mục tiêu: Xác định hiệu quả của Kế hoạch giáo dục theo định hướng phát triển NL HS của nhà trường, làm cơ sở cho những quyết định tiếp tục hay chỉnh sửa trong thời gian tới. - Nội dung: Đánh giá nhằm trả lời hai câu hỏi: + CTNT được xây dựng có đem lại kết quả như mong muốn (có đạt được mục tiêu đã xác định) hay không? + Cần cải tiến, hoàn thiện chương trình như thế nào? - Chu kì đánh giá: Sau mỗi học kì hoặc sau mỗi năm học 3. Phát triển chương trình môn học - Môn học trong chương trình GDPT mới - Xây dựng nội dung giáo dục tích hợp, phân hóa vào môn học - Thiết kế chương trình, nội dung môn học - Hoàn thiện và ban hành chương trình môn học - Tổ chức thực hiện và ban hành chương trình môn học 4. Phát triển chương trình hoạt động giáo dục 4.1. Hoạt động giáo dục trong chương trình giáo dục phổ thông * Khái quát về HĐGD trong chương trình GDPT HĐGD trong chương trình GDPT mới được thể hiện trong hoạt động trải nghiệm và hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp. Đây là hoạt động bắt buộc ở tất cả các khối từ lớp 1 đến lớp 12 theo vòng xoáy trôn ốc và có tổng số 105 tiết trong 1 năm học. Hoạt động trải nghiệm ở tiểu học và Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp ở THCS cũng như THPT là một nội dung quen thuộc vì được xây dựng trên cơ sở các HĐGD tập thể như chào cờ, sinh hoạt lớp, sinh hoạt Sao Nhi đồng, Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp Thanh niên Việt Nam và các hoạt động tham quan, lao động, hướng nghiệp, thiện nguyện, phục vụ cộng đồng trong chương trình hiện hành. Như vậy có thể hiểu, hoạt động trải nghiệm và hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp là tất cả những HĐGD trong nhà trường ngoài môn học. Chương trình trải nghiệm có thể tổ chức trong và ngoài lớp 13
- học, trong và ngoài trường học; theo quy mô nhóm, lớp học, khối lớp hoặc quy mô trường; được thực hiện theo bốn hình thức cơ bản: Sinh hoạt dưới cờ; Sinh hoạt lớp; Hoạt động trải nghiệm theo chủ đề: Thường xuyên (hàng tuần) và định kỳ (theo tháng hoặc học kỳ). Sự khác biệt so với HĐGD ở chương trình hiện hành nằm ở hoạt động trải nghiệm thường xuyên. Trong quy định 1 tiết/ tuần, tuy nhiên có thể để 2 tiết/2 tuần nhưng không được dồn 4 tiết trong tháng. Hình thức câu lạc bộ: Đây là hoạt động tự chọn và hoạt động ngoài giờ lên lớp, không có trong thời khóa biểu, được thực hiện theo nhu cầu của HS nhằm đáp ứng những yêu cầu của thực tiễn cuộc sống. Hiệu trưởng có thể cân nhắc để quyết định hình thức này. Chương trình được thực hiện với sự tham gia, phối hợp, liên kết của nhiều lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường như: GV chủ nhiệm lớp, GV môn học, cán bộ tư vấn tâm lí học đường, cán bộ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, cán bộ Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, cán bộ phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, cán bộ quản lí nhà trường, cha mẹ HS, chính quyền địa phương, các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Chương trình bảo đảm tính mở, linh hoạt. Cơ sở giáo dục và GV chủ động lựa chọn nội dung, phương thức, không gian, thời gian hoạt động phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của mình trên nguyên tắc bảo đảm mục tiêu giáo dục và các yêu cầu cần đạt về PC, NL đối với mỗi lớp học, cấp học. * Mục tiêu của HĐGD trong chương trình GDPT Như đã xác định, hoạt động trải nghiệm và hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp là tất cả những HĐGD trong nhà trường ngoài môn học, hoạt động này có mục tiêu như sau: - Mục tiêu chung: Hình thành, phát triển ở HS NL thích ứng với cuộc sống, NL thiết kế và tổ chức hoạt động, NL định hướng nghề nghiệp; đồng thời góp phần hình thành, phát triển các PC chủ yếu và NL chung quy định trong Chương trình tổng thể. Giúp HS khám phá bản thân và thế giới xung quanh, phát triển đời sống tâm hồn phong phú, biết rung cảm trước cái đẹp của thiên nhiên và tình người, có quan niệm 14
- sống và ứng xử đúng đắn, đồng thời bồi dưỡng cho HS tình yêu đối với quê hương, đất nước, ý thức về cội nguồn và bản sắc của dân tộc để góp phần giữ gìn, phát triển các giá trị tốt đẹp của con người Việt Nam trong một thế giới hội nhập. - Mục tiêu cấp tiểu học: Hình thành cho HS thói quen tích cực trong cuộc sống hằng ngày, chăm chỉ lao động; thực hiện trách nhiệm của người HS ở nhà, ở trường và địa phương; biết tự đánh giá và tự điều chỉnh bản thân; hình thành những hành vi giao tiếp, ứng xử có văn hoá; có ý thức hợp tác nhóm và hình thành được NL giải quyết vấn đề. - Mục tiêu cấp THCS: Giúp HS củng cố thói quen tích cực, nền nếp trong học tập và sinh hoạt, hành vi giao tiếp ứng xử có văn hoá và tập trung hơn vào phát triển trách nhiệm cá nhân: trách nhiệm với bản thân, trách nhiệm với gia đình, cộng đồng; hình thành các giá trị của cá nhân theo chuẩn mực chung của xã hội; hình thành và phát triển NL giải quyết vấn đề trong cuộc sống; biết tổ chức công việc một cách khoa học; có hứng thú, hiểu biết về một số lĩnh vực nghề nghiệp, có ý thức rèn luyện những PC cần thiết của người lao động và lập được kế hoạch học tập, rèn luyện phù hợp với định hướng nghề nghiệp khi kết thúc giai đoạn giáo dục cơ bản. - Mục tiêu cấp THPT: Giúp HS phát triển các PC, NL đã được hình thành ở cấp tiểu học và cấp THCS. Kết thúc giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp, HS có khả năng thích ứng với các điều kiện sống, học tập và làm việc khác nhau; thích ứng với những thay đổi của xã hội hiện đại; có khả năng tổ chức cuộc sống, công việc và quản lí bản thân; có khả năng phát triển hứng thú nghề nghiệp và ra quyết định lựa chọn được nghề nghiệp tương lai; xây dựng được kế hoạch rèn luyện đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp và trở thành người công dân có ích. * Yêu cầu cần đạt của HĐGD trong chương trình GDPT - Yêu cầu cần đạt về PC chủ yếu: Khi thực hiện HĐGD trong nhà trường, HS phải hình thành và phát triển các PC chủ yếu theo các mức độ phù hợp với mỗi cấp học đã được quy định trong Chương trình tổng thể như: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm. - Yêu cầu cần đạt về NL: 15
- HĐGD giúp hình thành và phát triển ở HS các NL tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo được biểu hiện qua các NL đặc thù: NL thích ứng với cuộc sống, NL thiết kế và tổ chức hoạt động, NL định hướng nghề nghiệp. Yêu cầu cần đạt về các NL đặc thù này được thể hiện trong các lĩnh vực. * Phương thức tổ chức và loại hình HĐGD - Phương thức tổ chức: + Định hướng chung: Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS; mỗi HS đều sẵn sàng tham gia trải nghiệm tích cực. Tạo điều kiện cho HS trải nghiệm, sáng tạo thông qua các hoạt động tìm tòi, vận dụng kiến thức và kinh nghiệm đã có vào đời sống; hình thành, phát triển kĩ năng giải quyết vấn đề và ra quyết định dựa trên những tri thức và ý tưởng mới thu được từ trải nghiệm. Tạo cơ hội cho HS suy nghĩ, phân tích, khái quát hoá những trải nghiệm để kiến tạo kinh nghiệm, kiến thức và kĩ năng mới. Lựa chọn linh hoạt, sáng tạo các phương pháp giáo dục phù hợp: phương pháp nêu gương; phương pháp giáo dục bằng tập thể; phương pháp thuyết phục; phương pháp tranh luận; phương pháp luyện tập; phương pháp khích lệ, động viên; phương pháp tạo sản phẩm và các phương pháp giáo dục khác. + Một số phương thức tổ chức chủ yếu: Phương thức Khám phá: là cách tổ chức hoạt động tạo cơ hội cho HS trải nghiệm thế giới tự nhiên, thực tế cuộc sống và công việc, giúp HS khám phá những điều mới lạ, tìm hiểu, phát hiện vấn đề từ môi trường xung quanh, bồi dưỡng những cảm xúc tích cực và tình yêu quê hương đất nước. Nhóm phương thức tổ chức này bao gồm các hoạt động tham quan, cắm trại, thực địa và các phương thức tương tự khác. Phương thức Thể nghiệm, tương tác: là cách tổ chức hoạt động tạo cơ hội cho HS giao lưu, tác nghiệp và thể nghiệm ý tưởng như diễn đàn, đóng kịch, hội thảo, hội thi, trò chơi và các phương thức tương tự khác. Phương thức Cống hiến: là cách tổ chức hoạt động tạo cơ hội cho HS mang lại những giá trị xã hội bằng những đóng góp và cống hiến thực tế của mình thông qua các hoạt động tình nguyện nhân đạo, lao động công ích, tuyên truyền và các phương thức tương tự khác. 16
- Phương thức Nghiên cứu: là cách tổ chức hoạt động tạo cơ hội cho HS tham gia các đề tài, dự án nghiên cứu khoa học nhờ cảm hứng từ những trải nghiệm thực tế, qua đó đề xuất những biện pháp giải quyết vấn đề một cách khoa học. Nhóm hình thức tổ chức này bao gồm các hoạt động khảo sát, điều tra, làm dự án nghiên cứu, sáng tạo công nghệ, nghệ thuật và các phương thức tương tự khác. - Loại hình hoạt động: Hoạt động trải nghiệm và Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp được tổ chức trong và ngoài lớp học, trong và ngoài trường học; theo quy mô nhóm, lớp học, khối lớp hoặc quy mô trường; với bốn loại hình hoạt động chủ yếu là Sinh hoạt dưới cờ, Sinh hoạt lớp, HĐGD theo chủ đề và Hoạt động câu lạc bộ; với sự tham gia, phối hợp, liên kết của nhiều lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường như: GV chủ nhiệm lớp, GV môn học, cán bộ tư vấn tâm lí học đường, cán bộ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, cán bộ Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, cán bộ phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, cán bộ quản lí nhà trường, cha mẹ HS, chính quyền địa phương, các tổ chức, cá nhân trong xã hội. * Đánh giá kết quả giáo dục Đánh giá kết quả giáo dục trong Hoạt động trải nghiệm và Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp phải bảo đảm các yêu cầu sau: Mục đích đánh giá là thu thập thông tin chính xác, kịp thời, có giá trị về mức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt so với chương trình; sự tiến bộ của HS trong và sau các giai đoạn trải nghiệm. Kết quả đánh giá là căn cứ để định hướng HS tiếp tục rèn luyện hoàn thiện bản thân và cũng là căn cứ quan trọng để các cơ sở giáo dục, các nhà quản lí và đội ngũ GV điều chỉnh chương trình và các HĐGD trong nhà trường. Nội dung đánh giá là các biểu hiện của PC và NL đã được xác định trong chương trình: NL thích ứng với cuộc sống, NL thiết kế và tổ chức hoạt động, NL định hướng nghề nghiệp. Các yêu cầu cần đạt về sự phát triển PC và NL của mỗi cá nhân chủ yếu được đánh giá thông qua hoạt động theo chủ đề, hoạt động hướng nghiệp, thông qua quá trình tham gia hoạt động tập thể và các sản phẩm của HS trong mỗi hoạt động. Đối với Sinh hoạt dưới cờ và Sinh hoạt lớp, nội dung đánh giá chủ yếu tập trung vào sự đóng góp của HS cho các hoạt động tập thể, số giờ tham gia các hoạt động và việc thực hiện có kết quả hoạt động chung của tập thể. Ngoài ra, các yếu tố như động 17
- cơ, tinh thần, thái độ, ý thức trách nhiệm, tính tích cực đối với hoạt động chung của HS cũng được đánh giá thường xuyên trong quá trình tham gia hoạt động. Kết hợp đánh giá của GV với tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng của HS, đánh giá của cha mẹ HS và đánh giá của cộng đồng; GV chủ nhiệm lớp chịu trách nhiệm tổng hợp kết quả đánh giá. Cứ liệu đánh giá dựa trên thông tin thu thập được từ quan sát của GV, từ ý kiến tự đánh giá của HS, đánh giá đồng đẳng của các HS trong lớp, ý kiến nhận xét của cha mẹ HS và cộng đồng; thông tin về số giờ (số lần) tham gia hoạt động trải nghiệm (hoạt động tập thể, hoạt động trải nghiệm thường xuyên, hoạt động xã hội và phục vụ cộng đồng, hoạt động hướng nghiệp, hoạt động lao động,...); số lượng và chất lượng các sản phẩm hoàn thành được lưu trong hồ sơ hoạt động. Kết quả đánh giá đối với mỗi HS là kết quả tổng hợp đánh giá thường xuyên và định kì về PC và NL và có thể phân ra làm một số mức để xếp loại. Kết quả đánh giá Hoạt động trải nghiệm và Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp được ghi vào hồ sơ học tập của HS (tương đương một môn học). 4.2. Thiết kế chương trình, nội dung hoạt động giáo dục 4.2.1. Nguyên tắc thiết kế chương trình, nội dung hoạt động giáo dục Hoạt động trải nghiệm và Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp là HĐGD do nhà giáo dục định hướng, thiết kế và hướng dẫn thực hiện, tạo cơ hội cho HS tiếp cận thực tế, thể nghiệm các cảm xúc tích cực, khai thác những kinh nghiệm đã có và huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng của các môn học để thực hiện những nhiệm vụ được giao hoặc giải quyết những vấn đề của thực tiễn đời sống nhà trường, gia đình, xã hội phù hợp với lứa tuổi; thông qua đó, chuyển hoá những kinh nghiệm đã trải qua thành tri thức mới, hiểu biết mới, kĩ năng mới góp phần phát huy tiềm năng sáng tạo và khả năng thích ứng với cuộc sống, môi trường và nghề nghiệp tương lai. Hoạt động trải nghiệm và Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp góp phần hình thành, phát triển các PC chủ yếu, NL chung và các NL đặc thù cho HS; nội dung hoạt động được xây dựng dựa trên các mối quan hệ của cá nhân HS với bản thân, với xã hội, với tự nhiên và với nghề nghiệp. Chính vì vậy, hoạt động này được triển khai qua 4 mạch nội dung chính: Hoạt động hướng vào bản thân, hoạt động hướng đến xã hội, hoạt động hướng đến tự nhiên và hoạt động hướng nghiệp. Nội dung hoạt động này trong CTPT mới được chia thành 2 giai đoạn: 18
- a) Giai đoạn giáo dục cơ bản: Ở cấp tiểu học, nội dung hoạt động trải nghiệm tập trung vào hoạt động khám phá bản thân, hoạt động rèn luyện bản thân, hoạt động phát triển quan hệ với bạn bè, thầy cô và người thân trong gia đình. Các hoạt động xã hội và tìm hiểu một số nghề nghiệp gần gũi với HS cũng như tổ chức thực hiện với nội dung và hình thức phù hợp với lứa tuổi. Ở cấp THCS, nội dung hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp tập trung hơn vào các hoạt động xã hội, hoạt động hướng đến tự nhiên, và hoạt động hướng nghiệp. Đồng thời hoạt động hướng vào bản thân vẫn tiếp tục được triển khai để phát triển PC và NL của HS. b) Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp: Ngoài các hoạt động hướng đến bản thân, cá nhân, tự nhiên, xã hội. Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp ở cấp THPT tập trung hơn vào HĐGD hướng nghiệp nhằm phát triển NL định hướng nghề nghiệp. Thông qua các hoạt động hướng nghiệp, HS được đánh giá và tự đánh giá về NL, sở trường, hứng thú liên quan đến nghề nghiệp, làm cơ sở để tự lựa chọn cho mình ngành nghề phù hợp và tự rèn luyện PC và NL để thích ứng với nghề nghiệp tương lai. Trên cơ sở chương trình HĐGD đã ban hành, lấy nội dung cụ thể và yêu cầu cần đạt của HS ở các lớp làm căn cứ, các nhà trường có thể thực hiện xây dựng nội dung HĐGD. Hoạt động trải nghiệm về bản chất là HS được thực sự tư duy về cái mình nghĩ, được làm cái mình muốn, được trải qua các cung bậc cảm xúc thực sự. Chính vì vậy, Hiệu trưởng cần chỉ đạo thiết kế chương trình, nội dung HĐGD phù hợp HS của trường mình. Khi thực hiện phải đảm bảo những nguyên tắc cơ bản như sau: - Đảm bảo tính mục tiêu: Mục tiêu của chương trình HĐGD phải dựa vào những PC và NL cần đạt của chương trình tổng thể nói chung và chương trình trải nghiệm nói riêng. Mục tiêu chương trình HĐGD phải là mục tiêu bộ phận để hình thành PC và NL của chương trình tổng thể. - Đảm bảo tính khoa học: Chương trình phải tính đến các yếu tố logic, chính xác, phù hợp với HS và mang tính giáo dục cao. Muốn đảm bảo nguyên tắc này cần bám sát vào chương trình tổng thể, chương trình môn học, vào mục tiêu cần đạt để thiết kế, PTCT giáo dục của nhà trường. 19
- - Đảm bảo tính thực tiễn: PC và NL học được bộc lộ qua việc làm, hành vi, thái độ, ngôn ngữ. Chính vì vậy chương trình giáo dục phải bắt nguồn từ thực tiễn và đảm bảo tính thực tiễn để sao cho HS có cơ hội rèn luyện và phát triển các hành vi cần thiết. Để xây dựng chương trình, nội dung HĐGD trong nhà trường đảm bảo những nguyên tắc cơ bản nói trên, các nhà trường cần phải thực hiện những thao tác cơ bản như sau: - Nghiên cứu kỹ chương trình hoạt động trải nghiệm và hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp trong chương trình GDPT tổng thể. Xác định rõ thời lượng cho từng mạch nội dung với nội dung cụ thể và yêu cầu cần đạt. - Phân tích đặc điểm HS: Yếu tố lứa tuổi; thể chất; NL; nhu cầu và tiềm năng kinh tế của gia đình HS Xác định mối quan hệ giữa đặc điểm này với yêu cầu cần đạt. Từ đó xác định nội dung và NL cụ thể liên quan đến HS của trường. - Phân tích đặc điểm tình hình nhà trường: NL đội ngũ; điều kiện cơ sở vật chất; diện tích khuôn viên, sân trường, lớp học... Sau khi phân tích tình hình sẽ lựa chọn phương pháp tổ chức HĐGD phù hợp với NL đội ngũ mà vẫn đảm bảo mục tiêu, yêu cầu cần đạt. - Phân tích điều kiện địa phương: Kinh tế, chính trị, văn hóa, địa lý Những yếu tố này là căn cứ để lựa chọn hình thức, quy mô tổ chức HĐGD. Đặc biệt để xác định kinh phí, nguồn lực khi thực hiện chương trình. - Dự báo điều kiện thời tiết. Đây là yếu tố quan trọng khi thiết kế các HĐGD lớn theo hình thức định kỳ. Việc thiết kế chương trình giáo dục trong nhà hay ngoài trời, đi gần hay đi xa, thời gian bao nhiêu lâu sẽ bị chi phối rất nhiều bởi yếu tố thời tiết. Việc dự báo chính xác sẽ đóng góp phần lớn vào sự thành công của chương trình. 4.2.2. Thiết kế chương trình, nội dung HĐGD trong nhà trường a) Thiết kế chương trình, nội dung HĐGD thường xuyên * Xây dựng bảng tổng hợp nội dung HĐGD: Trên cơ sở chương trình khung do Bộ Giáo dục ban hành, nhà trường xây dựng chương trình HĐGD cho tất cả các khối lớp. Chương trình này cần dựa trên cả những thông tin về HS, nhà trường, địa phương đã phân tích ở phần trên. Để thuận tiện cho việc giám sát và tổ chức thực hiện, chương trình có thể đưa vào bảng tổng hợp theo ví dụ gợi ý dưới đây: 20

