Giáo án Thể dục Lớp 10 - Môn tự chọn: Bóng Chuyền

docx 6 trang cattuong 02/01/2026 2980
Bạn đang xem tài liệu "Giáo án Thể dục Lớp 10 - Môn tự chọn: Bóng Chuyền", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxgiao_an_the_duc_lop_10_mon_tu_chon_bong_chuyen.docx

Nội dung tài liệu: Giáo án Thể dục Lớp 10 - Môn tự chọn: Bóng Chuyền

  1. MÔN THỂ THAO TỰ CHỌN A - BÓNG CHUYỀN I- MỤC TIÊU Học xong nội dung môn Bóng chuyền, HS: - Biết cách và thực hiện cơ bản đúng kĩ thuật : Tư thế chuẩn bị ; một số động tác di chuyển cơ bản; chuyền bóng cao tay bằng hai tay ; đệm bóng ; phát bóng thấp tay chính diện. - Hiểu một số điểm trong Luật Bóng chuyền. - Biết vận dụng những hiểu biết về luật khi tập luyện, thi đấu. - Phát triển thể lực chung, đặc biệt là sức mạnh của tay và khả năng khéo léo. II - NỘI DUNG 1. Kĩ thuật a) Tư thế chuẩn bị Trong tập luyện và thi đấu bóng chuyền thường sử dụng 3 TTCB như sau: – Tư thế thứ nhất : Đứng hai chân rộng bằng vai, trọng lượng cơ thể dồn đều trên hai chân, thân người hơi ngả về trước, hai tay co tự nhiên, khuỷu tay ở ngang hông, cẳng tay gần như song song với đùi. Bàn tay, ngón tay duỗi tự nhiên, hai cẳng tay hướng ra trước và hơi chếch sang hai bên. – Tư thế thứ hai : Giống như ở tư thế thứ nhất, nhưng đứng chân trước chân sau, trọng lượng cơ thể dồn nhiều vào chân trước, bàn chân hơi kiễng. - Tư thế thứ ba: Giống tư thế thứ nhất, nhưng hai bàn chân hơi kiễng. Trong lượng cơ thể dồn vào hai nửa trước bàn chân. Dù ở TTCB nào, hai chân luôn ở trạng thái động, trọng lượng cơ thể luôn được luôn chuyển từ chân nọ sang chân kia hoặc nhún chân nhẹ nhàng. b) Di chuyển - Di chuyển để thực hiện các động tác đánh bóng, đỡ bóng trong những tình huống cụ thể. - Kỹ thuật di chuyển gồm : chạy, bước, nhảy, ngã... tuỳ thuộc vào tình huống cụ thể để vận dụng kĩ thuật di chuyển cho hợp lí, có hiệu quả cao nhất. + Chạy : Được sử dụng trong trường hợp có điểm rơi xa, chạy nhanh hay chậm tuỳ thuộc vào tốc độ bóng rơi, trong quá trình chạy phải luôn theo dõi bóng và lựa chọn hướng tiếp xúc bóng cũng như kĩ thuật đánh bóng. + Bước thường : Được sử dụng khi bóng có điểm rơi không xa, tốc độ chậm. + Bước chéo: Là kĩ thuật di động với tốc độ lớn hơn bước thường và sử dụng khi di động sang hai bên. Nếu di chuyển sang phải thì chân trái bước sang phải trước (đi qua phía trước chân phải) và đặt xuống phía bên phải của chân phải và ngược lại nếu di chuyển sang trái. - Bước xoạc : Là kĩ thuật di chuyển với một bước, nhưng có độ dài lớn (hoặc là bước cuối cùng của kĩ thuật khác), được sử dụng khi cứu bóng ở tầm thấp ở phía trước hoặc hai bên. – Nhảy : Sử dụng để đỡ, để khống chế những đường bóng ở trên cao. c) Chuyền bóng cao tay bằng hai tay (trước mặt)
  2. Kỹ thuật chuyền bóng cao tay bằng hai tay (trước mặt) thường được sử dụng khi bóng có điểm rơi ngang đầu và ở trước mặt. Kĩ thuật gồm những giai đoạn sau: - TTCB : Đứng ở tư thế hai chân rộng bằng vai, hai chân ngang nhau (hoặc chân trước chân sau), trọng lượng cơ thể dồn đều giữa hai chân (hoặc chủ yếu dồn vào chân trước), gối hơi khuỵu, thân trên thắng, mặt hơi ngửa, mắt quan sát bóng, đồng thời tay đưa lên cao tạo thành hình tay phù hợp để đón bóng. TTCB đòi hỏi phải thoải mái, tránh những gò bó căng thẳng ảnh hưởng đến kĩ thuật chuyền (H. 86). Hình 86 - Động tác : Khi bóng đến, hai bàn tay tiếp xúc bóng với hình tay như sau : hai bàn tay xoè rộng nhưng không mở căng các ngón tay, các ngón tay hơi khum lại tạo thành hình túi. Hai ngón tay cái hướng vào nhau để đỡ phía bên dưới bóng và tiếp xúc bóng bằng đốt ngón tay thứ hai. Ngón tay trỏ có nhiệm vụ đỡ bóng ở phía sau và chếch xuống dưới, là ngón tay chịu sức nặng của bóng nhiều nhất (sức nặng do tốc độ rơi tạo nên), bóng tiếp xúc trên toàn bộ ngón tay, hai ngón trỏ hướng về phía trán của người chuyền bóng. Ngón giữa tiếp xúc bóng bằng đốt thứ 2, thứ 3, và một phần của đốt thứ nhất. Ngón đeo nhẫn tiếp xúc bóng bằng đốt thứ 3 và một phần lớn của đốt thứ 2. Ngón út tiếp xúc hai bên thân bóng bằng phía trong của đốt thứ 3. Khi bóng đến, tay tiếp xúc bóng ở phía sau và chếch xuống bên dưới của bóng. Tầm tiếp xúc bóng ngang trán hoặc trên trán, cách trán khoảng 15 - 20cm. Tầm chuyền bóng có thể thay đổi tuỳ thuộc vào trình độ và đặc điểm cá nhân người tập. Hình 87 Các ngón tay tiếp xúc vào nửa dưới và phía sau của bóng, cổ tay hơi ngửa và bẻ vào trong (H, 87).
  3. Khi tay tiếp xúc bóng, lực chuyền bóng được phối hợp từ lực đạp của chân, lực vươn lên cao ra trước của thân người, lực đẩy của tay từ dưới – lên cao – ra trước (với một góc độ từ 60 - 65°). Quá trình chuyển động của hai tay khi chuyển bóng là một quá trình liên và không thay đổi. Sau khi bóng rời khỏi tay (kết thúc giai đoạn chuyền bóng), hai tay tiếp tục vươn theo bóng. Sau đó, nhanh chóng trở về TTCB (H. 88). Hình 88 d) Đệm bóng Đệm bóng gồm 2 kĩ thuật chính : Đệm bằng hai tay và một tay. Đệm bóng là cơ sở để phát triển thành nhiều kĩ thuật ứng dụng khác như : lăn ngã cứu bóng, cá nhảy,... Kĩ thuật cơ bản được sử dụng nhiều nhất trong thi đấu và cho những người mới tập là kĩ thuật đệm bóng bằng hai tay (H. 89). Hình 89 - TTCB : Người tập đứng ở tư thế trung bình thấp, cẳng chân và đùi . thành một góc khoảng 90°. Đứng hai chân mở rộng bằng hoặc hơn vai ; chân trước chân sau hoặc hai chân ngang nhau ; trọng lượng cơ thể con đều trên hai chân hoặc hơi dồn lên chân trước. Hai tay co tự nhiên ở hai bên sườn, thân người hơi đổ về phía trước, mắt quan sát bóng. - Động tác : Khi bóng đến dùng hai tay đón bóng (đệm và chuyện bóng đi) ở tàm ngang bụng hoặc ngang ngực. Khi đỡ bóng : hai tay duỗi thẳng, hai bàn tay đặt chéo lên nhau và nắm lại, bàn tay nọ bọc lấy bàn tay kia, hai ngón cái song song và sát nhau. Bóng tiếp xúc ở 1/3 cẳng tay phía gân cổ tay để đánh bóng. Trước khi bóng chạm tay, phải bẻ ngửa hai cổ tay tạo sức căng cho cẳng tay. Bóng tiếp xúc với tay khi tay hợp với mặt đất một góc khoảng 30°. Lực đánh bóng (đỡ bóng và đưa bóng đi) là phối hợp của lực chân đạp đất, vươn người và
  4. nâng tay từ dưới lên trên - ra trước. Tay tiếp xúc bóng ở phía sau và dưới bóng. Lực để đánh bóng tuỳ thuộc vào tốc độ bóng đến và cự li (khoảng cách) vị trí cần đưa bóng đến. Góc độ của đường bóng đến quyết định góc độ của tay (góc tạo thành giữa cẳng tay và mặt đất) khi bóng đến. Khi bóng rời tay, hai chân tiếp tục vươn lên cao ra trước, tay vươn theo hướng bóng đi và dừng lại ở tầm ngang vai. e) Phát bóng thấp tay chính diện -TTCB : Đứng chân trước, chân sau, hai gót chân nằm trên một đường thẳng vuông góc với lưới, khoảng cách giữa hai chân bằng một bước chân. Bạn chân trước hướng lưới, bàn chân sau mở ra một góc 45 - 60°. Hai chân khuyụ, thân trên hơi gập về trước, trọng lượng cơ thể dồn đều lên hai chân hoặc nhiều vào chân sau. Tay không thuận cầm bóng (tay cùng bên với chân phía trước), bàn tay xòe rộng đỡ dưới bóng. Bóng được nâng cao ngang thắt lưng và chếch sang phía đánh bóng, khoảng cách giữa bóng và thân người bằng một bước chân. Tay đánh bóng đưa thẳng ra phía sau (không chếch sang hai bên), khuỷu tay thắng thân người hơi xoay về phía tay đánh bóng. - Động tác : Bóng được tung thẳng hướng từ dưới lên cao khoảng 50cm ; vào thời điểm tung bóng tay đánh bóng đưa từ sau ra trước (hướng chuyể động vuông góc với lưới). Tay đánh bóng tiếp xúc bóng ở độ cao ngang thắt lưng. (H.90) Cùng lúc với tay đánh bóng, chân sau đạp mạnh chuyển toàn bộ trọng lượng cơ thể về chân trước. Hình 90 Sau khi bóng rời tay, thân người và tay đánh bóng vươn theo bóng chân phía sau bước lên trước để giữ thăng bằng. Hình tay khi tiếp xúc bóng có các loại sau : + Đánh bóng bằng toàn bộ bàn tay : bàn tay hơi khum, các ngón tay khép và duỗi tương đối thẳng. Khi phát bóng, gần như toàn bộ lòng bàn tay và các ngón tay tiếp xúc với bóng (H. 91a). + Đánh bóng bằng cạnh bàn tay : bàn tay duỗi thẳng, các ngón khép chặt, tay tiếp xúc bóng bằng mặt sau của ngón cái và mặt bên cùng phía ngón cái của ngón tay trỏ (H. 91c). + Đánh bóng bằng nắm đấm phía lòng bàn tay (H. 91b). + Đánh bóng bằng nắm đấm nghiêng (H. 91d).
  5. Hình 91 Tuỳ đặc điểm cá nhân, người tập có thể lựa chọn loại hình tay tiếp xúc bóng cho phù hợp. 2. Một số điểm trong Luật Bóng chuyền a) Sân thi đấu Sân thi đấu gồm sân đấu và khu tự do. Sân thi đấu hình chữ nhật, kích thước 18m x 9m, mỗi nửa sân là một hình vuông kích thước 9m x 9m (H. 92). - Lưới của sân thi đấu bóng chuyền cao 2,43m (đối với nam) và 2,24m (đối với nữ); lưới dài 9,5m, rộng 1m. b) Bóng Bóng hình cầu, làm bằng da mềm hoặc giả da, trong có ruột bằng cao su. Bóng có trọng lượng 260 - 280g, có chu vi (hình tròn qua tâm) 65 - 67cm. c) Phát bóng - Trước khi bóng rời tay, chân không được chạm đường biên ngang. - Trước khi phát bóng, phải tung bóng. - Bóng phát chạm lưới và qua sân bên kia được tính là bóng trong cuộc. - Bóng chỉ được phát đi sau tiếng còi của trọng tài. Hình 92. Sân bóng chuyền
  6. d) Lỗi chạm bóng - Mỗi đội chỉ được chạm bóng 3 lần (không kể 1 lần chắn bóng) và mỗi người không được chạm bóng 2 lần liên tục (trừ 1 lần chắn bóng). - Dính bóng : Là lôi được đánh giá theo nhận định của trọng tài khi đấu thủ đánh bóng không dứt khoát, thời gian chạm bóng lâu,... e) Chạm bóng - Bóng có thể chạm mọi phần của cơ thể. - Bóng có thể chạm nhiều phần thân thể, nhưng phải chạm cùng một lúc. - Trong chắn bóng, một cầu thủ có thể chạm bóng nhiều lần.