SKKN Một số kinh nghiệm trong công tác tổ chức hoạt động tổ chuyên môn, để nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn Toán ở Trường THCS Bình An

doc 28 trang cattuong 13/03/2026 1840
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số kinh nghiệm trong công tác tổ chức hoạt động tổ chuyên môn, để nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn Toán ở Trường THCS Bình An", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docskkn_mot_so_kinh_nghiem_trong_cong_tac_to_chuc_hoat_dong_to.doc

Nội dung tài liệu: SKKN Một số kinh nghiệm trong công tác tổ chức hoạt động tổ chuyên môn, để nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn Toán ở Trường THCS Bình An

  1. I) LỜI NÓI ĐẦU: 1) Lí do chọn đề tài: Trong những năm qua Đảng , Nhà nước ta rất quan tâm chú ý đến sự phát triển của ngành Giáo dục –Đào tạo. Đúng như nghị quyết Trung ương Đảng đã khẳng định “Giáo dục – Đào tạo là quốc sách hàng đầu”, Giáo dục– Đào tạo là tiền đề cho sự phát triển. Ngành giáo dục cũng đề ra nhiều quyết sách quan trọng nhằm thực hiện tốt nghị quyết của trung ương Đảng đề ra. Đặc biệt là đổi mới chương trình sách giáo khoa, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực, đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá học sinh, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực nhằm nâng cao chất lượng, làm chuyển biến và thay đổi nhận thức trong dạy và học. Chất lượng chuyên môn nói chung và chuyên môn toán nói riêng phụ thuộc rất lớn vào tập thể sư phạm, yếu tố con người đóng vai trò quyết định mà các văn kiện của Đảng và nhà nước đã nêu rõ trong chỉ thị 40/CT/TW ngày 15/06/2004 của Ban bí thư TW Đảng về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục. Người thầy cần giỏi về chuyên môn đồng thời lại phải tốt về nhân cách mới thực hiện hoàn hảo nhiệm vụ của mình, thực sự là những “Kĩ sư tâm hồn”. Tuy nhiên trong thời gian đã qua chất lượng giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh còn nhiều hạn chế, bất cập chưa đáp ứng đầy đủ kịp thời theo yêu cầu của sự đổi mới và sự phát triển mà thực tiễn đặt ra. Để đáp ứng theo quan điểm đổi mới chương trình sách giáo khoa hiện nay, nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong việc tìm hiểu và lĩnh hội kiến thức mới. Muốn vậy phải làm sao thay đổi nhận thức từ đội ngũ giáo viên trực tiếp giảng dạy, làm được điều này có rất nhiều vấn đề đặt ra cần giải quyết. Trong đó việc tổ chức, quản lí chỉ đạo nâng cao hiệu quả hoạt động tổ chuyên môn trong nhà trường đóng vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là đội ngũ có ảnh hưởng lớn trực tiếp và có tính chất quyết định đến chất lượng giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh. 1
  2. Như chúng ta đã biết, trong những năm gần đây toàn huyện Kiên Lương nói chung và trường THCS Bình An nói riêng, cách sinh hoạt chuyên môn thông thường nhất vẫn chỉ là: lên kế hoạch dự giờ, thao giảng. Sau đó cùng ngồi lại nhận xét rút kinh nghiệm cho tiết dạy đó. Còn các hình thức sinh hoạt khác ít được áp dụng, hay nói đúng hơn là các hình thức sinh hoạt chuyên môn chưa đa dạng và phong phú, chưa đáp ứng được nhu cầu mong muốn của nhiều giáo viên, nhất là đối với giáo viên mới ra trường như: làm thế nào vừa đảm bảo tác phong sư phạm tốt, vừa có phương pháp phù hợp hiệu quả để giải quyết tốt các thí nghiệm, các bài toán khó cũng như các chuyên đề phức tạp mà giáo viên còn vướng mắc. Chính vì lẽ đó, hàng năm có rất nhiều ý kiến, kiến nghị lên bộ phận chuyên môn của phòng giáo dục đề nghị tổ chức những tiết thao, hội giảng để mỗi giáo viên được học hỏi trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau; từ đó nâng cao chất lượng dạy và học. 2) Mục đích: Qua thực tế nhiều năm công tác tại trường THCS Bình An, tôi nhận thấy cần phải có một cách thức tổ chức sinh hoạt tổ chuyên môn, nhất là bộ môn toán một cách có hiệu quả hơn mà không mang tính hình thức, thủ tục. Từ đó giúp cho công tác giảng dạy của giáo viên và việc học của học sinh đạt kết quả cao hơn. 3) Phạm vi đề tài: Với kinh nghiệm của bản thân, tôi mạnh dạn đề xuất “một số kinh nghiệm trong công tác tổ chức hoạt động tổ chuyên môn, để nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn toán ở trường THCS Bình An” năm học 2009 – 2010 mà tôi đã và đang thực hiện. II) THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ: 1) Thực trạng tình hình: Đầu năm 2009 được sự tin tưởng của BGH và sự tín nhiệm của các đồng nghiệp phân công cho tôi làm tổ trưởng tổ Tự Nhiên, trong tổ gồm 12 người được chia ra như sau: Toán – Lý 8 người, Hóa Sinh 3 người và Công nghệ 1 người. Tuy quản lí nhiều lĩnh vực phân môn khác nhau nhưng cũng có ưu điểm là các môn liên quan kiến thức lẫn nhau nên có hỗ trợ cho nhau. 2
  3. Trong tổ có một đội ngũ cán bộ giáo viên chuẩn về trình độ chuyên môn (Đại học 3, Cao đẳng sư phạm 9); đa số giáo viên tuổi đời còn trẻ, khỏe năng động, sáng tạo và đầy nhiệt huyết với nghề. Một số giáo viên công tác lâu năm giàu kinh nghiệm hỗ trợ cho công tác chuyên môn như hướng dẫn, kèm cặp, truyền đạt những kinh nghiệm vốn có cho giáo viên trẻ mới ra trường giảng dạy tốt hơn. Ban giám hiệu và ban chấp hành công đoàn luôn quan tâm chỉ đạo sát, giúp đỡ và định hướng cho tổ chuyên môn hoạt động đều có hiệu quả và chất lượng tốt. Học sinh ngoan hiền, có ý thức tập trung học tập. Bên cạnh những thuận lợi kể trên vẫn còn một số vấn đề làm ảnh hưởng đến công tác chuyên môn của tổ đó là: Hàng năm tổ có rất nhiều giáo viên được luân chuyển theo nguyện vọng riêng của mỗi cá nhân. Giáo viên cũ có tay nghề vững chắc lại chuyển đi, giáo viên mới ra trường được chuyển về. Tuy lực lượng giáo viên trẻ năng động, nhiệt tình, đầy nhiệt huyết nhưng họ lại thiếu những kinh nghiệm giảng dạy, nên khi đứng dạy trên lớp một số giáo viên còn lúng túng, chưa được tự tin lắm và có cảm giác sợ hãi khi bị dự giờ hoặc thanh tra... 2) Những hạn chế khó khăn khi giải quyết công tác chuyên môn của tổ trong thực tế: Chất lượng bộ môn toán trong trường hàng năm luôn được đánh giá là thấp so với các bộ môn khác là do nhiều yếu tố như: giáo viên khi được phân công chưa đúng sở trường và năng lực công tác ví dụ giáo viên chuyên môn Toán - Lý nhưng có người dạy Lý tốt hơn dạy Toán hoặc ngược lại, có giáo viên giao cho dạy Toán 6 sẽ dạy tốt hơn Toán 9 , các kế hoạch hoạt động của tổ chuyên môn chưa được cụ thể hóa, khoa học còn mang tính áp đặt, các buổi sinh hoạt chuyên môn chưa đáp ứng nhu cầu các nguyện vọng của giáo viên như đã kể ở trên, công tác dự giờ thăm lớp còn mang tính chất đối phó ở một số giáo viên, việc ra đề kiểm tra chưa đảm bảo tính khách quan, việc áp dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy còn chậm, cho nên chất lượng bộ môn còn hạn chế. 3
  4. Cụ thể qua một số số liệu như sau: * Kết quả tổng kết các tiết dự giờ của tổ lên kế hoạch dự được tổng kết như sau: TS tiết dự giờ Kết quả Năm học giáo viên Giỏi Khá Trung bình SL % SL % SL % 2008-2009 36 19 52,7% 10 27,8% 7 19,5% * Kết quả khảo sát học sinh đầu năm học 2009 - 2010 Đầu Bộ Kết quả TS năm học môn học 2009-2010 Giỏi Khá Trung bình Yếu sinh SL % SL % SL % SL % Toán 51 8% 149 23,4% 276 43,4% 160 25,2% 636 III) CÁC GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ: 1. Các giải pháp: 1.1/Phân công chuyên môn: Qua theo dõi chuyên môn của giáo viên trong tổ ở các năm học trước và bằng nhiều kênh thông tin khác nhau, bản thân đã nắm bắt được năng lực chuyên môn, sở trường, hoàn cảnh của từng giáo viên trong tổ. Sau đó trình bày với ban giám hiệu (BGH) trường, để BGH có dự kiến phân công chuyên môn cho từng giáo viên phụ trách giảng dạy môn/lớp cho phù hợp. Khi có ý kiến trình bày với BGH trường thì BGH cũng dự kiến sắp xếp trao đổi trao đổi với tập thể giáo viên. Từ đó biết được tâm tư nguyện vọng của bản thân mỗi người để điều chỉnh cho phù hợp với thực tế của tổ và sắp xếp hợp lí hơn, tạo được đồng thuận và tạo được sự nhất trí cao, phát huy được tính dân chủ trong tổ cũng như trong trường. Ngoài ra còn khơi dậy tình đoàn kết thân ái, nâng cao tinh thần phấn khởi tự tin của giáo viên khi tiếp nhận nhiệm vụ. Khi được phân công đúng năng lực sở trường, tạo được sự phấn khởi thì chắc chắn chất lượng hiệu quả giảng dạy và công tác sẽ cao hơn. 4
  5. 1.2/Xây dựng quy chế hoạt động trong tổ: Việc xây dựng quy chế hoạt động cho tổ chuyên môn có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên, điều quan trọng là xây dựng quy chế cho phù hợp sẽ nâng cao tinh thần tự giác và ý thức trách nhiệm của đội ngũ giáo viên nói chung và của từng thành viên nói riêng. Tuy nhiên muốn thực hiện được điều này thì quy chế không phải do một ai soạn ra mà cần có sự xây dựng đóng góp của cả một tập thể tổ chuyên môn và sát thực tế. Vì vậy, ngay từ đầu năm học tổ trưởng chuyên môn và tập thể tổ cùng họp và bàn bạc xây dựng quy chế hoạt động chuyên môn cho phù hợp với đặc trưng của tổ. Khi đã tự đóng góp xây dựng nên, thì từng thành viên tự giác thực hiện với cả tinh thần và trách nhiệm. 1.3/Lập kế hoạch hoạt động theo tuần, tháng: Trên cơ sở kế hoạch hoạt động chung của trường, ngay từ đầu năm học, tập thể tổ cũng cần xây dựng kế hoạch cho phù hợp với tổ. Ví dụ: Ngay đầu năm học, khi tổ chức họp để bàn bạc xây dựng kế hoạch cho cả năm học thì tổ trưởng phải định hướng được: Tổ năm nay có giáo viên nào mới, phụ trách môn gì? Giáo viên nào còn hạn chế về chuyên môn, tổ phải lên lịch dự giờ giáo viên nào trước, để những thành viên đó được dự và tiếp cận với thực tế tình hình dạy và học ở địa phương. Để làm được điều này, tổ trưởng phải định hướng giáo viên thảo luận, chọn thao giảng, dự giờ đầu năm là những giáo viên có chuyên môn vững vàng, giàu kinh nghiệm thực hiện trước, để giáo viên mới ra trường được dự giờ, rút kinh nghiệm, học hỏi. Tiếp đến lên lịch dự giờ những giáo viên mới đó, để nắm bắt tình hình, cách dạy của họ tìm biện pháp điều chỉnh, giúp đỡ kịp thời. Ngoài ra, tổ trưởng cần phải lưu ý các ý kiến về biện pháp giúp đỡ những giáo viên mới ra trường, giáo viên dạy còn yếu như: phân công giáo viên có chuyên môn tốt, vững vàng giúp đỡ giáo viên trẻ như trên, tạo điều kiện cho họ trao đổi và học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau. 5
  6. Kế hoạch năm, học kì, tháng cần định hình được các công việc chính trọng tâm thực hiện trong từng thời điểm, từng tháng và học kì. Kế hoạch tuần cụ thể hóa các công việc với đối tượng thực hiện trong thời gian cụ thể và được trình cho ban giám hiệu duyệt và dán ở văn phòng. Cuối mỗi tháng cần đánh giá xem xét những gì đã làm được và chưa làm được để bổ sung và rút kinh nghiệm vào các tuần, tháng tiếp theo. 1.4/Tổ chức sinh hoạt định kỳ: Dựa trên định mức mỗi tháng tổ chuyên môn sinh hoạt chuyên môn hai lần vào cuối tuần 2 và cuối tuần 4. Lần 1: Theo quy định, tổ chuyên môn thường sinh hoạt vào đầu tuần 1 hoặc cuối tuần 4, với nội dung là: Đánh giá nhận xét, rút kinh nghiệm cụ thể những việc làm được, chưa làm được trong các hoạt động của tháng trước (nếu có). Triển khai các văn bản liên quan đến chuyên môn (nếu có). - Đưa ra các kế hoạch cụ thể từng tuần của tháng tiếp theo, tuần tiếp theo, phân công cho các thành viên trong tổ thực hiện như: kế hoạch dự giờ, kế hoạch thao giảng, thực hiện kiểm tra chuyên môn, thực hiện chuyên đề, thực hiện các câu lạc bộ, GDNGLL . - Bình xét thi đua của tháng ( nếu có), gọi là sinh hoạt chuyên môn nhưng thực tế phần lớn là họp triển khai kế hoạch, nhận xét đánh giá của tổ trưởng, giáo viên góp ý kiến chung và xếp thi đua. . ., còn thời gian sinh hoạt chuyên môn rất hạn chế. Vì vậy, nhằm có nhiều thời gian cho sinh hoạt, thảo luận chuyên môn, các nội dung khác như: Kế hoạch tuần, tháng và các nội dung khác mang tính hành chính thì thông báo công khai ở văn phòng trường vào cuối tuần trước để giáo viên tiện theo dõi thực hiện (vì phần lớn nội dung này thực hiện theo kế hoạch chung của trường theo chủ điểm đã định sẵn ngay từ đầu năm học và học kì, tháng) thông báo, còn lại là dành nhiều thời gian cho việc trao đổi một số bài dạy hai tuần tiếp theo của thành viên, nếu gặp khó khăn hoặc trao đổi bài dạy dự định cho thao giảng. Để buổi sinh hoạt chuyên môn có hiệu quả thiết thực thì mỗi giáo viên phải nghiên cứu bài thuộc môn mình phụ trách trước một đến hai tuần. Trong quá trình 6
  7. nghiên cứu cần tìm hiểu và ghi chép những vấn đề nào mà nhận thấy khi tiến hành giảng dạy có thể gặp khó khăn mà bản thân mỗi giáo viên không tự giải quyết được hoàn chỉnh để đưa ra thảo luận và tìm hướng giải quyết cho phù hợp. Khi thảo luận tổ trưởng phân công theo từng nhóm, những giáo viên dạy cùng khối lớp, cùng môn sẽ thảo luận trước, nếu thảo luận mà chưa đưa ra được hướng giả quyết tốt thì tổ trưởng và các thành viên trong tổ cùng thảo luận. Trong khi thảo luận giáo viên nên trao đổi với nhau cho từng bài chi thiết cụ thể, những chỗ còn vướng mắc, lưu ý cụ thể bài đó cần sử dụng phương pháp gì? Cần sử dụng những đồ dùng dạy học nào cho phù hợp, đồng thời hướng khai thác chúng như thế nào. Khi làm tốt vấn đề trên không những chỉ có giáo viên tự tin hơn, phát huy được tính sáng tạo trong giờ học, mà còn giúp học sinh hứng thú, có niềm tin và lòng say mê học giỏi toán, cũng như các môn khoa học tự nhiên khác. Có thể nói thực hiện công việc trên là “Thực hiện góp ý xây dựng giáo án trước khi lên lớp. Mà đã góp ý xây dựng giáo án trước giờ lên lớp thì hiệu quả giảng dạy của giáo viên và chất lượng học tập của học sinh sẽ cao hơn nhiều, vì cơ bản đã cùng nhau định hướng tiến trình và nội dung cho tiết dạy. Lần 2: Tổ chức thao giảng hoặc thực hiện chuyên đề: Nhằm đáp ứng được nhu cầu thực tế hàng năm tổ thường có các giáo viên mới ra trường về công tác, cho nên phương pháp dạy ở một số giáo viên này còn hạn chế, mặc dù họ được trang bị rất đầy đủ về chuyên môn song họ lại thiếu về kinh nghiệm thực tế giảng dạy. Trên thực tế, đặc thù của bộ môn trong ban tự nhiên thường có các kiểu bài cần truyền đạt đó là: Dạy tiết lí thuyết: Dạy khái niệm Dạy định lí, dạy chứng minh định lí. Dạy tiết thực hành: Dạy giải bài tập Dạy tiết luyện tập và dạy thực hành thí nghiệm. 7
  8. Dạy tiết ôn tập: Ôn tập từng phần. Ôn tập chương và ôn tập cuối năm Từ những vấn đề trên, bản thân tôi đã tìm ra một số giải pháp hoạt động chuyên đề hay thao giảng theo chuyên đề có hiệu quả cao. Sau đây là một số ví dụ trích các biên bản thực hiện về chuyên đề mà tổ chuyên môn trường tôi tổ chức có hiệu quả trong quá trình giảng dạy: * Thực hiện chuyên đề dạy học khái niệm toán: Khi tổ chức thực hiện chuyên đề trên thì tổ trưởng phải yêu cầu các thành viên của mình tìm hiểu về: các phương pháp dạy học khái niệm và phương pháp dạy nào thường mang lại hiệu quả cao nhất? Các thành viên cùng nhau trao đổi chia sẽ những kinh nghiệm đã dạy, phác họa định hướng thành một sơ đồ, sau đó chọn một số bài thao giảng đánh giá, kiểm định lại. Cụ thể ví dụ 1: ( chuyên đề dạy khái niệm toán) CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM. ĐỘC LẬP – TỰ DO – HẠNH PHÚC. BIÊN BẢN THỰC HIỆN CHUYÊN ĐỀ DẠY KHÁI NIỆM TOÁN HỌC Hôm nay lúc 9 giờ 30’ ngày 9 tháng 9 năm 2009. Tổ tự nhiên gồm: Tổ trưởng + Các thành viên trong tổ. Vắng: 0. Tổ tiến hành họp thảo luận về chuyên đề tiết luyện tập với những nội dung sau: NỘI DUNG: 1)Đ/C Bảo thông qua nội dung của chuyên đề dạy các khái niệm toán cụ thể như sau: A) Cách một dạy khái niệm toán học: a) Dạy khái niệm theo định hướng quy nạp: Là xuất phát từ mô hình, hình vẽ, thí dụ cụ thể hay một bài tập bằng cách giải quyết vấn đề đó rồi nâng lên khái quát hóa vấn đề, đi đến định nghĩa khái niệm. b) Dạy khái niệm theo con đường Suy diễn: Là định nghĩa khái niệm mới thông qua khái niệm cũ mà học sinh đã biết. 8
  9. Qua thảo luận tổ thống nhất theo cách dạy theo hướng quy nạp vì dạy theo phương pháp này phù hợp với phương pháp dạy hiện nay là phát huy tính tích cực tự giác của học sinh, giáo viên chỉ là người hướng dẫn học sinh cách tự học. Như vậy sẽ vừa gây hứng thú cho học sinh trong tiết học, vừa giúp học sinh nhớ, khắc sâu và vận dụng được kiến thức tốt trong học tập. B) Quy trình dạy một khái niệm toán học: a) GV nghiên cứu bài để xác định con đường hình thành khái niệm: - Xây dựng một hệ thống bài tập hoạc tình huống có vấn đề như quan sát hình vẽ, vẽ hình, gấp hình - Yêu cầu học sinh giải bài tập đó hoặc giải quyết tình huống đó sẽ thu được kiến thức mới. - Phát biểu vấn đề hay tình huống vừa giải quyết bằng cách khái quát hóa vấn đề. VD1: Hình thành khái niệm số nguyên tố, hợp số Bài tập: Tìm các ước của a? a 2 3 4 5 6 Ước của a 1;2 1;3 1;2;4 1;5 1;2;3;6 Yêu cầu: Quan sát bảng nhận xét số ước của các số => Từ đó dẫn đến khái niệm số nguyên tố hợp số. VD2 : Hình thành khái niệm về góc: Yêu cầu: Vẽ hai tia chung gốc Ox và Oy => GV kết luận hình vừa vẽ được gọi là một góc. => Yêu cầu học sinh trả lời góc là gì? A VD3 :Hình thành khái niệm về tam giác cân Quan sát hình vẽ hãy trả lời câu hỏi: Tam giác ABC có gì đặc biệt về cạnh ? HS: có hai cạnh AB = AC B C Tam giác ABC là tam giác cân. Vậy tam giác cân là tam giác như thế nào? 9
  10. b)Yêu cầu học sinh phát biểu khái niệm: - Định nghĩa khái niệm không được vòng quanh, tức khái niệm thứ nhất không được định nghĩa qua khái niệm thứ hai và ngược lại. - Phát biểu định nghĩa có thể diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau không nhất thiết phải thuộc lòng như SGK, nhưng phải đủ nội dung chính xác và gẫy gọn. c) Củng cố khái niệm: Khi dạy khái niệm cần giúp các em củng cố khái niệm bằng cách cho các em luyện tập với nhiều hình thức như: + Hoạt động nhận dạng và thể hiện khái niệm: Nhiều học sinh khi học thuộc cách phát biểu khái niệm nhưng lại không biết được đối tượng cụ thể có thỏa mãn định nghĩa hay không, và không tự mình tạo ra được đối tượng thỏa mãn định nghĩa. Vì vậy phải cho học sinh tiến hành “nhận dạng” và “thể hiện” khái niệm. a c Ví dụ: Khi học về khái niệm hai phân số bằng nhau: a.d b.c b d Ta có thể củng cố các bài tập: Hãy tìm các cặp phân số bằng nhau trong các cặp phân số sau: 1 3 2 6 3 9 4 12 và ; và ; và ; và 4 12 3 6 5 15 3 9 • Hoạt đông ngôn ngữ: Để giúp học sinh củng cố khái niệm và phát triển ngôn ngữ ren luyện khả năng diễn đạt bằng các cách khác nhau nhưng câu văn gọn và chính xác. Ta có thể củng cố dạng bài tập điền khuyết. Ví dụ: Củng cố về số nguyên tố, hợp số: a) Số nguyên tố là số lớn hơn 1 và chỉ có .. b) . Chỉ có đúng hai ước số. Hay a) số nguyên tố là số như thế nào? ( HS có thể diễn đạt theo hai ý trên) Qua thảo luận chuyên đề đi đến thống nhất cách thực hiện một tiết dạy như sau: 10
  11. Tiết 6: Bài 5 TIA ( Hình học 6) A) KTBC: Vẽ một đường thẳng tùy ý, Lấy một điểm tùy ý trên đường thẳng yêu cầu học sinh nhận xét. Sau đó đặt vấn đề vào bài mới. x O y B) BÀI MỚI: HOẠT ĐỘNG 1: Khái niệm Tia: GV: Kết luận mỗi phần đường thẳng và điểm O chung đó gọi là một tia. Vậy thế nào là một tia gốc O?  Khái niệm tia. O x GV: Hướng dẫn học sinh vẽ hình tia, viết kí hiệu tia. • Củng cố: GV: có thể vẽ nhiều tia khác nhau yêu cầu học sinh nêu định nghĩa theo các hình cụ thể vừa vẽ. HOẠT ĐỘNG 2: Hai tia đối nhau: GV: Quan sát hình vẽ cho biết hình có mấy tia? Nhân xét gốc của hai tia? Vị trí x O y của hai tia? =>Khái niệm hai tia đối nhau. Yêu cầu hs vẽ hai tia đối nhau. • Củng cố: ?1 SGK HOẠT ĐỘNG 3: Hai tia trùng nhau: O A x GV: Vẽ hình cho biết hai tia OA và Ox có đặc điểm gì? ( HS: Chung gốc và cùng thuộc một nửa đường thẳng) GV: Kết luận hai tia OA và Ox trùng nhau.  Khái niệm hai tia trùng nhau. • Củng cố: ?2/ SGK. C) CỦNG CỐ : - Soạn dạng bài tập điền khuyết - Các bài tập SGK. 3) Phân công người thực hiện chuyên đề: Đ/c Trần Anh Tâm thực hiện thao giảng thực tế trên lớp. Cuộc họp kết thúc vào lúc 11 giờ cùng ngày 9/9/2009. Các thành Viên Thư ký 11
  12. Cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam. Độc lập – tự do – Hạnh phúc. BIÊN BẢN HỌP TỔ THẢO LUẬN ĐÁNH GIÁ VỀ THỰC HIỆN THAO GIẢNG THEO CHUYÊN ĐỀ DẠY KHÁI NIỆM TOÁN HỌC. Hôm nay ngày 15 tháng 9 năm 2009 Tổ Tự nhiên tiến hành thao giảng tiết 6 Bài 6 : Tia. Theo chuyên đề dạy khái niệm toán. Qua tiết dạy thực tế áp dụng theo chuyên dề trên các thành viên trong tổ đi đến thống nhất các ý kiến đóng góp như sau: 1)ƯU ĐIỂM: - Dạy khái niệm theo hướng quy nạp phát huy được tính tích cực của học sinh. - Học sinh tiếp cận các khái niệm một cách nhẹ nhàng thoải mái không mang tính áp đặt. - Phù hợp với cách dạy học theo phương pháp mới hiện nay. - Giáo viên là người chủ động hướng dẫn các em học tập. 2) NHƯỢC ĐIỂM: - Dạy theo quy trình này mất nhiều thời gian. - Hạn chế ở học sinh yếu kém theo còn chậm chạp. 3) PHƯƠNG HƯỚNG KHẮC PHỤC HẠN CHẾ NHƯỢC ĐIỂM: - Khi thiết kế giáo án giáo viên phải xác định rõ trọng tâm của khái niệm cũng như của bài học để thiết kế gọn, lô gic, hợp lí, tránh dài dòng. - Để học sinh yếu kém theo và tiếp cận được giáo viên khi dạy cần phải chú ý nhiều đến hai loại đối tượng học sinh này. Các thành viên Bình an ngày tháng năm Thư ký Ngoài ra tổ chọn thêm một số bài dự giờ hoặc thao giảng để kiểm định lại chuyên đề trên như : Hai phân số bằng nhau, Phép trừ và phép chia, Phân thức đại số Ví dụ 2: Chuyên đề về dạy tốt tiết luyện tập Phần phân tích đa thức thành nhân tử ( toán 8) 12
  13. CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM. ĐỘC LẬP – TỰ DO – HẠNH PHÚC. BIÊN BẢN THỰC HIỆN CHUYÊN ĐỀ TIẾT LUYỆN TẬP BÀI “ PHÂN TÍCH ĐA THỨC THÀNH NHÂN TỬ” Hôm nay lúc 16 giờ ngày 2 tháng 10 năm 2009. Tổ tự nhiên gồm: Tổ trưởng + Các thành viên trong tổ. Vắng: 0. Tổ tiến hành họp thảo luận về chuyên đề tiết luyện tập với những nội dung sau: NỘI DUNG: 1)Đ/c Tú triển khai cách dạy tiết luyện tập phần bài “ Phân tích đa thức thành nhân tử” toán 8 tập 1 cụ thể : Trong 6 tiết của chương I sẽ chia như sau: + Phân thành 4 tiết bài mới như PPCT + Phân hai tiết luyện tập như PPCT thành 2 tiết ôn tập. Trong hai tiết luyện tập phân ra các dạng bài tập để học sinh xác định cách giải ( nội dung cụ thể kèm SKKN đ/c Tú). 2)Qua thảo luận chuyên đề đi đến thống nhất cách thực hiện một tiết dạy như sau: Tiết 14: LUYỆN TẬP A) KTBC: Yêu cầu học sinh ghi lại 7 hằng đẳng thức đáng nhớ: B) BÀI MỚI: gv: Tiến hành trên lớp với 3 dạng toán đơn giản như sau: • Dạng 1: Dạng có hai hạng tử: Ví dụ: Phân tích các đa thức sau thành nhân tử: a) 20x2 – 45 ; b) 3x2 – 84 ; c) x3 + 9 ; d) x4 + 64 GV: Gợi ý các dạng toán trên có mấy hạng tử?  yêu cầu học sinh dùng các phương pháp sau: - Đặt nhân tử chung. - Dùng hằng đẳng thức. cần chú ý ba hằng dẳng thức đáng nhớ là: a 2 b 2 ( a b ) ( a b ) a 3 b 3 ( a b ) ( a 2 a b b 2 ) a 3 b 3 ( a b ) ( a 2 a b b 2 ) Ngoài hai phương pháp nêu ở trên nếu không sử dụng được nên sử dụng phương pháp thêm bớt cùng một hạng tử. 13
  14. Dạng 2 : Có ba hạng tử: Ví dụ: Phân tích các đa thức sau thành nhân tử: a) 2x2 + 4xy +2y2 ; b) 3x2 – 6 xy +3y2 ; c) x2 -5x + 14 GV: Gợi ý: Các bài tập trên có mấy hạng tử ? Ta dùng các phương pháp sau: +) Đặt nhân tử chung. +) Dùng hằng đẳng thức. cần chú ý ba hằng dẳng thức đáng nhớ: bình phương của một hiệu hoạc bình phương của một tổng. +) Tách các hạng tử. • Dạng 3: Có bốn hạng tử: Ví dụ: Phân tích các đa thức sau thành nhân tử: a) x3 +18x2 + 54x + 54 ; b) 3x3 – 9x2 + 9x – 3 c) x2 - xy – 2x + 2y ; d) x2 – 2xy +1 –y2 GV: Gợi ý: Các bài tập trên có mấy hạng tử ? - Ta dùng các phương pháp sau: +) Đặt nhân tử chung. +) Dùng hằng đẳng thức, cần chú ý ba hằng dẳng thức đáng nhớ Lập phương của một hiệu hoặc lập phương của một tổng. +) Nhóm nhiều hạng tử, chú ý nhóm mỗi nhóm 2 hoặc 3 hạng tử để xuất hiện nhân tử chung hoặc hằng đẳng thức. C) CỦNG CỐ: Đưa bảng hệ thống liện kê bảy hằng dẳng thức đã học, tóm tắt các phương pháp vừa giải ở trên. 3)Phân công người thực hiện chuyên đề: Đ/C Đào Thị Huế thực hiện thao giảng thực tế trên lớp. Cuộc họp kết thúc vào lúc 18 giờ cùng ngày 2/10/2009. Các thành Viên Thư ký 14
  15. Cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam. Độc lập – tự do – Hạnh phúc. BIÊN BẢN HỌP TỔ THẢO LUẬN ĐÁNH GIÁ VỀ THỰC HIỆN THAO GIẢNG THEO CHUYÊN ĐỀ DẠY TIẾT LUYỆN TẬP BÀI “PHÂN TÍCH ĐA THỨC THÀNH NHÂN TỬ” Hôm nay ngày 3 tháng 10 năm 2009 Tổ Tự nhiên tiến hành thao giảng tiết LUYỆN TẬP. Theo chuyên đề dạy tiết luyện tập bài “ phân tích đa thức thành nhân tử”. Qua tiết dạy thực tế áp dụng theo chuyên dề trên các thành viên trong tổ đi đến thống nhất các ý kiến đóng góp như sau: 1)ƯU ĐIỂM: - Phân loại được theo các dạng bài tập đơn giản giúp học sinh dễ nhận được dạng bài. - Học sinh nắm vững được các phương pháp phân tích đã nêu ở SGK - Học sinh có khả năng làm tốt các bài tập đơn giản đã nêu theo các dạng. - Phù hợp với đối tượng của phần lớn học sinh của địa phương. 2) NHƯỢC ĐIỂM: - Chưa tiếp cận được với đối tượng là học sinh khá giỏi. - Dạng bài tập chưa phong phú. 3) PHƯƠNG HƯỚNG KHẮC PHỤC HẠN CHẾ NHƯỢC ĐIỂM: - Khi thiết kế giáo án đối với lớp có học sinh khá giỏi giáo viên phải xây dựng thêm dạng bài tập nâng cao cách giải các bài tập ví dụ như: Dạng tách hạng tử   Đa thức là các tam thức bậc hai. Đa thức là các đa thức bậc ba trở lên * Dạng đa thức là tam thức bậc hai trong thực hành ta làm như sau Bước 1: Tìm tích a.c. Bước 2 : Phân tích a.c thành tích của hai số nguyên bằng mọi cách. Bước 3: Tách hệ số b thành tích hai số nguyên vừa phân tích ở bước 2. Ví dụ: x2 - 6x + 8 có a = 1, b = - 6 , c = 8. Ta thấy: (- 4) + (-2) = - 6 nên 15
  16. x2 - 6x + 8 = (x2 -2x) – (4x -8) = x( x -2) – 4( x- 2) = (x – 2)( x – 4) • Dạng đa thức là các đa thức bậc ba trở lên: Nhẩm nghiệm nguyên của đa thức • Và một số dạng khác. Các thành viên: Bình an ngày 3 tháng 10 năm 2009 Thư ký Ví dụ 3: (Chuyên đề về dạy định lí toán học) CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM. ĐỘC LẬP – TỰ DO – HẠNH PHÚC. BIÊN BẢN THỰC HIỆN CHUYÊN ĐỀ DẠY ĐỊNH LÍ TOÁN HỌC Hôm nay lúc 9 giờ 30’ ngày 2 tháng 1 năm 2010. Tổ tự nhiên gồm: Tổ trưởng + Các thành viên trong tổ. Vắng: Đ/C Vân (p). Tổ tiến hành họp thảo luận về chuyên đề tiết dạy định lí với những nội dung sau: NỘI DUNG: 1)Đ/C Bảo thông qua nội dung của chuyên đề dạy định lí toán cụ thể như sau: A) Cách dạy một định lí toán học: c) Dạy định lí theo định hướng quy nạp: Là xuất phát từ mô hình, hình vẽ, thí dụ cụ thể hay mọt bài tập bằng cách giải quyết vấn đề đó rồi nâng lên khái quát hóa vấn đề, đi đến định lí. d) Dạy định lí theo con đường Suy diễn: Là phát biểu định lí mới thông qua những kiến thức cũ mà học sinh đã biết. B)Quy trình dạy một định lí toán học: * Các con đường dạy học định lý: Việc dạy và học các định lý có thể thực hiện bằng con đường suy diễn hoặc bằng khâu suy đoán ta có thể minh họa hai con đường đó như sau: 16
  17. 2)Qua thảo luận chuyên đề đi đến thống nhất cách thực hiện một tiết dạy như sau: Tiết 38: Bài 8: CÁC TRƯỜNG HỢP BẰNG NHAU CỦA HAI TAM GIÁC VUÔNG A)KTBC: Nêu các trường hợp bằng nhau của hai tam giác vuông đã biết? B)BÀI MỚI: *HOẠT ĐÔNG 1: Nhắc lại và củng cố về các trường hợp bằng nhau của hai tam giác vuông đã học. ( Phần này giáo viên cho học sinh làm các bài tập ?1 Chứng minh các tam giác bằng nhau theo các hình 143,144,145 SGK/ 142) *HOẠT ĐỘNG 2: Hình thành định lí ( Hai tam giác vuông bằng nhau theo trường hợp mới (cạnh huyền – cạnh góc vuông) GV Cho học sinh làm bài tập sau: Cho tam giác ABC vuông tại A và tam giác DEF vuông tại D có BC = EF; AC = DE . Chứng minh ABC DEF . HS: Có thể lên bảng thực hiện hoặc giáo viên cùng học sinh thực hiện bài toán.  Từ bài toán trên rút ra nhận xét nếu hai tam giác có 1 cạnh huyền và một cạnh góc vuông bằng nhau thì hai tam giác đó bằng nhau => đó là nội dung định lí. C) CỦNG CỐ: Bài tập ?2/ SGK và bài tập 63;64/146 SGK 3) Phân công người thực hiện chuyên đề: Đ/c Nguyễn Tấn Kiệt thực hiện thao giảng thực tế trên lớp. Cuộc họp kết thúc vào lúc 11 giờ cùng ngày 2/1/2010. Các thành Viên Thư ký 17
  18. Cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam. Độc lập – tự do – Hạnh phúc. BIÊN BẢN HỌP TỔ THẢO LUẬN ĐÁNH GIÁ VỀ THỰC HIỆN THAO GIẢNG THEO CHUYÊN ĐỀ DẠY ĐỊNH LÍ TOÁN HỌC. Hôm nay ngày 16 tháng 1 năm 2010. Tổ Tự nhiên tiến hành thao giảng : Tiết 37 Bài : Các trường hợp bằng nhau của tam giác vuông Theo chuyên đề dạy học định lý toán học. Qua tiết dạy thực tế áp dụng theo chuyên dề trên các thành viên trong tổ đi đến thống nhất các ý kiến đóng góp như sau: 1)ƯU ĐIỂM: - Dạy định lí theo hướng quy nạp đối với bài học trên phát huy được tính tích cực của học sinh. - Học sinh tiếp cận các định lí một cách nhẹ nhàng thoải mái không mang tính áp đặt. - Học sinh phần lớn vận dụng được định lí vào giải các bài tập áp dụng. - Phù hợp với đối tượng của phần lớn học sinh của địa phương. 2) NHƯỢC ĐIỂM: Khi day họcđịnh lý, đối với mỗi định lý cụ thể, Việc đi theo con đường nào không phải tùy tiện mà theo nội dung định lý và điều kiện cụ thể của học sinh. Nếu định lý là hình học thông thường việc phát hiện định lý có thể tiến hành theo nhiều cách: Vẽ hình, đo đạc, gấp hình, tính toán đơn giản (dưới sự hướng dẫn của giáo viên) Vì vậy với giáo viên nếu không phân loại được các dạng định lí khi dạy sẽ không có hiệu quả cao. 3) PHƯƠNG HƯỚNG KHẮC PHỤC HẠN CHẾ NHƯỢC ĐIỂM: - Khi thiết kế giáo án giáo viên phải biết cách chọn lựa cách dạy sao cho phù hợp với nội dung định lí và đối tượng học sinh mà mình truyền đạt . - Khi dạy một định lý, giáo viên phải xác định vai trò, vị trí của định lý đó với bài 18
  19. học, mở rộng ra đối với chương, mối liên hệ của chúng đối với nội dung kiến thức khác. - Khi chọn bài tập cho học sinh giáo viên phải chú ý tới các dạng bài tập khác nhau như: bài tập nhận dạng định lý, bài tập thể hiện định lý, bài tập khắc sâu định lí ( thường là bài tập phản ví dụ), bài tập vận dụng định lý Các thành viên: Bình an ngày 3 tháng 10 năm 2009 Thư ký Các chuyên đề trên khi giảng dạy thực tế trên lớp đều được đánh giá là các tiết dạy khá và giỏi. Vì trang viết có hạn nên tôi chỉ đưa một số ví dụ về thực hiện chuyên đề mà tôi đã áp dụng được thành công trong năm học 2009 -2010 đối với bộ môn toán. Ngoài ra còn một số chuyên đề như hoạt động câu lạc bộ toán học, tổ chức hoạt động GDNGLL .Tuy những chuyên đề sinh hoạt chưa được phong phú nhưng từ những chuyên đề trên đã được triển khai, đa số giáo mới ra trường đã phần nào nâng cao được tay nghề trong giảng dạy, khi đứng lớp cũng thấy tự tin hơn, ít còn lúng túng trước học sinh. Mặt khác khi triển khai các chuyên đề các thành viên trong tổ khi sinh hoạt chuyên môn cũng thấy hào hứng sôi nổi hẳn lên, cảm giác sinh hoạt tổ khối không còn nhàm chán, gò bó và tẻ nhạt nữa. 1.5/Dự giờ thăm lớp: Việc dự giờ thăm lớp là một nhiệm vụ rất quan trọng, không thể thiếu của tất cả giáo viên. Qua dự giờ giáo viên có thể học hỏi, trao đổi và rút kinh nghiệm lẫn nhau để hoàn thiện và nâng cao chuyên môn. Trong một tháng mỗi giáo viên phải đi dự giờ tối thiểu 02 tiết hoặc 04 tiết đối với giáo viên mới ra trường và giáo viên còn yếu về chuyên môn. Vì vậy tổ trưởng phải lên lịch dự trong một tháng tối thiểu là 4 tiết. Trong đó có 02 tiết lên kế hoạch công khai, còn 02 tiết dự giờ đột xuất. Làm như vậy nới tạo được sự tích cực nghiên cứu bài trước khi sinh hoạt chuyên môn và thảo luận trong sinh hoạt chuyên môn, cũng như giảng dạy trên lớp. 19
  20. Do tổ đông và lực lượng giáo viên nhiều ở các phân môn khác nhau, nên khi lên lịch dự giờ thì tổ trưởng phân công giáo viên đi dự. Giáo viên được phân công đi dự giờ thường là giáo viên phụ trách giảng dạy bộ môn cùng khối hoặc có cùng chuyên môn. Sở dĩ tổ trưởng phải phân công giáo viên đi dự giờ vì mỗi giáo viên đi dự theo định mức, nếu không phân công sẽ có thể xảy ra trường hợp có giờ được nhiều người dự, có giờ ít người dự, thậm chí có giờ chỉ có người lên lịch dự. Do đó việc đánh giá xếp loại giờ dạy có thể thiếu khách quan công bằng. Đối với 01 tiết dự giờ thì tổ phân công một giáo viên có năng lực chịu trách nhiệm chính trong việc ghi biên bản góp ý xếp loại tiết dạy cũng như việc đánh giá xếp loại, tránh đối đầu. Sau dự giờ giáo viên đi dự phải nhận xét đánh giá xếp loại giờ dạy và rút kinh nghiệm. Kết quả dự giờ được công bố công khai ngay sau tiết dạy, qua đó tạo nên tinh thần thi đua tích cực và chuẩn bị bài tốt hơn cho sinh hoạt chuyên môn cũng như trước khi lên lớp. 1.6/ Ra đề kiểm tra: Việc ra đề kiểm tra thường xuyên và định kì cũng cần được thảo luận trong sinh hoạt chuyên môn để thống nhất những nội dung ôn tập và nội dung kiểm tra cơ bản nhất. Đề kiểm tra hiện nay phải đảm bảo 02 phần: Trắc nghiệm khách quan và tự luận. Do đó nếu mỗi bài kiểm tra, mỗi giáo viên chỉ ra 01 đề chung cho nhiều lớp thì việc kiểm tra đánh giá có thể thiếu khách quan chính xác đối với học sinh. Vì kiểm tra trắc nghiệm học sinh rất dễ quay cóp nhìn bài nhau nếu chỉ có 01 đề chung cho cả lớp. Nhưng nếu mỗi giáo viên phải ra nhiều đề cùng một lúc thì mất nhiều thời gian và chất lượng của đề có thể có nhiều hạn chế. Do đó một bài kiểm tra phải có một bộ đề gồm ít nhất từ hai đề trở lên. Vì vậy môn/khối có từ 2 giáo viên dạy thì mỗi giáo viên ra 1 đề, môn có từ 1 đến 2 giáo viên phụ trách thì mỗi giáo viên ra từ 02 đề để gộp lại thành bộ đề kiểm tra chung cho cả khối (làm như vậy qua nhiều năm sẽ có ngân hàng đề thì việc lựa chọn đề kiểm tra sẽ dễ dàng hơn). Sau khi mỗi giáo viên phụ trách bộ môn ra đề xong nộp cho tổ trưởng chỉnh sửa, sau đó lại nộp về cho BGH duyệt chỉnh sửa, ra một bộ đề hoàn chỉnh, được nhà 20