Sáng kiến kinh nghiệm Điều chế dung dịch rửa chén, bát từ quả chanh ta
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Điều chế dung dịch rửa chén, bát từ quả chanh ta", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_dieu_che_dung_dich_rua_chen_bat_tu_qua.docx
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Điều chế dung dịch rửa chén, bát từ quả chanh ta
- I. MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: Hiện nay tình trạng ô nhiễm nguồn nước do chất thải sinh hoạt ở Việt Nam cũng như toàn thế giới đang là vấn đề cần được giải quyết. Như chúng ta đã biết, ngày nay có rất nhiều người dân nhất là ở khu vực nông thôn thải các chất thải sinh hoạt xuống sông, thậm chí các quán phục vụ ăn uống gần sông cũng thải trực tiếp nước thải sinh hoạt ra sông gây tình trạng ô nhiễm nguồn nước, về lâu về dài các chất thải ấy tích tụ lại không phân giải kịp sẽ là một nguy cơ vô cùng lớn khiến nước sông bị ô nhiễm nặng. Hiện nay trên thị trường nước ta có rất nhiều dung dịch nước rửa chén, bát hóa học, các chất tẩy rửa này phần lớn đáp ứng được yêu cầu về độ tẩy rửa sạch các đồ dùng trong gia đình, tuy nhiên giá thành không rẻ. Đặc biệt, các loại nước rửa chén, bát này ảnh hưởng tới sức khỏe của người sử dụng, khi sử dụng xong phải rửa nhiều lần nước thì tay mới hết nhờn, các vật dụng trong bếp phải rửa lại nhiều lần nước để sạch xà phòng, gây lãng phí một lượng lớn nước sạch, tốn kém cho người dùng. Bên cạnh đó khi rửa mà không dùng găng tay thì rất dễ khiến người dùng bị khô da tay, bong da. Phần lớn các loại nước rửa chén, bát hiện nay trên thị trường thải ra môi trường một số lượng lớn các loại bọt không tan làm ảnh hưởng đến cây trồng và vật nuôi, cây không phát triển được, vật nuôi khi ăn có lẫn nước thải này như gà, chó, mèo, lợn... có thể ảnh hưởng tới sức khỏe, khiến chúng còi cọc nếu không phát hiện về lâu dài có thể dẫn đến tử vong. Các loại cá tôm dưới ao, bờ hồ, sông, kênh ... cũng bị ảnh hưởng rất lớn. Vậy một câu hỏi đặt ra là: “ Tại sao chúng ta không khai thác các nguồn nguyên liệu có sẵn từ thiên nhiên để làm ra loại nước rửa chén bát đó”. Qua tìm hiểu, chúng em biết được quả chanh là một loại quả có nhiều trong tự nhiên, giá thành rẻ. Trong ẩm thực, nước chanh được dùng làm nước giải khát, làm gia vị, để trang trí thức ăn, hay góp phần trong công nghiệp chế biến thực phẩm (kẹo, mứt, ). Theo đông y, nước chanh không chỉ giúp thỏa mãn cơn khát mà còn kích thích các chức năng gan, thận hoạt động để giải độc cho cơ thể, tăng cường hệ thống miễn dịch và làm giảm tác động của các gốc tự do, tác động với các chất gây ngộ độc có trong thức ăn, và hỗ trợ quá trình cai thuốc lá. Em thường thấy mẹ em lấy nước chanh cho vào nước để rửa chén bát hàng ngày. Tuy nhiên nước chanh vắt ra không để được lâu, dễ bị thiu trong vài ngày. Vì vậy với cách dùng này mẹ em phải tích lũy quả chanh trong tủ lạnh để dùng dần. Ngoài ra quả chanh có theo mùa nên không có để sử dụng lâu dài để dùng. Từ thực tế trên chúng em đã đặt ra câu hỏi liệu có cách nào dữ chữ được nước chanh mà không mất hoạt tính của nước chanh không đổi nhưng lại có thời gian bảo quản dài. Qua tìm hiểu, chúng em thấy Giấm trắng là một chất lỏng có vị chua, được hình thành từ sự lên men của rượu etylic (công thức hóa học là C2H5OH). Thành phần chính của giấm là dung dịch axit axêtic (CH3COOH) có nồng độ khoảng 5%. Giấm trắng có nhiều tác dụng làm gia vị pha nước chấm, làm các món nộm rau sống, nấu canh chua. Dùng để ngâm các loại gia vị, bảo vệ các 1
- chất dinh dưỡng cho rau khi đun nấu; bảo quản thực phẩm, tiêu diệt vi khuẩn và độc tố có trong thực phẩm, ngăn chặn sự sinh sản của vi khuẩn; giảm độ béo của các loại thực phẩm như thịt, cá, giữ cho các vi chất tan trong nước không bị phân hủy khi đun, nấu. Giấm giúp cơ thể tăng cường hấp thu canxi và các vi chất Ngoài ra, chúng em còn tìm hiểu được muối clorua natri (NaCl) là một chất phụ gia được dùng trong thực phẩm, không gây hại cho con người. Chúng em băn khoăn thắc mắc vậy nếu kết hợp giữa quả chanh, giấm trắng và muối clorua natri (NaCl) thì hiệu quả tẩy rửa chén bát ra sao? thời gian bảo quản dung dịch chiết suất từ ba nguyên liệu trên có lâu hơn không? Công thức pha trộn giữa quả chanh, giấm trắng và muối clorua natri (NaCl) là bao nhiêu cho phù hợp? Với băn khoăn, thắc mắc trên, chúng em đã hỏi cô giáo Hà Thị Hoan – Giáo viên dạy môn hóa học và cô đã hướng dẫn chúng em cách kết hợp các nguyên liệu gồm quả chanh, giấm trắng và muối clorua natri (NaCl) với một tỉ lệ nhất định để được một dung dịch tẩy rửa hoàn chỉnh có thời gian bảo quản lâu dài. Để chế tạo ra một loại nước rửa chén vừa rẻ, phù hợp với mọi đối tượng, không gây hại sức khỏe, đặc biệt là bảo vệ môi trường, không gây ảnh hưởng tới nguồn nước, có thể giúp cải thiện ô nhiễm ở các khu vực ven sông. Đó là lí do chúng em đã chọn đề tài “Điều chế dung dịch rửa chén, bát từ quả chanh ta” 2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài: Dung dịch rửa chén, bát từ quả chanh (quả chanh, giấm trắng và muối clorua natri (NaCl) có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo ra nước rửa chén bát sinh học từ các vật lệu dễ tìm và tận dụng các nguyên liệu sẵn có để chế tạo ra nước rửa chén, bát sinh học dễ làm, giá thành rẻ, tẩy sạch vết bẩn dầu mỡ, khử mùi hôi tanh. Đồng thời có tác dụng dưỡng da, không ảnh hưởng đến sức khỏe người dùng, thân thiện với môi trường. 3. Mục đích nghiên cứu: - Phân tích dung dịch nước chanh và các chất có trong quả chanh để khẳng định khả năng tẩy sạch các vết bẩn, dầu mỡ, khử mùi hôi từ thực phẩm, mùi tanh từ các loại thịt cá. - Phân tích khả năng tẩy rửa của dung dịch chanh, giấm trắng và muối ở các nhiệt độ nước khác nhau. - Phân tích tác dụng của dung dịch rửa chén, bát sau 3 tháng bảo quản. - Sản xuất được một sản phẩm hiệu quả không kém gì các sản phẩm đang có trên thị trường, có khả năng tẩy sạch các vết bẩn, dầu mỡ, khử mùi hôi từ thực phẩm, mùi tanh từ cá loại thịt, cá. Đồng thời là sản phẩm an toàn cho người sử dụng, có tác dụng dưỡng da, an toàn và đặc biệt rất thân thiện với môi trường, góp phần chống ô nhiễm nguồn nước, hạn chế tai nạn trong chăn nuôi. 4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu: - Do kinh phí có hạn, nên nhóm chỉ sử dụng các nguyên liệu rẻ tiền, dễ kiếm. - Đề tài bắt đầu được nghiên cứu từ tháng 5/2019, được thử nghiệm thực tế tại gia đình, thầy cô giáo cùng với việc phỏng vấn trực tiếp một số nhà hàng đã dùng sản phẩm. 2
- 5. Phương pháp nghiên cứu: * Phương pháp nghiên cứu lý thuyết Tìm hiểu các tài liệu và thông tin có liên quan đến đề tài như: + Thành phần của quả chanh +Tác dụng của quả chanh +Tác dụng của giấm trắng +Tác dụng của muối clorua natri (NaCl) +Tìm kiếm tỉ lệ kết hợp giữa quả chanh, giấm trắng và muối clorua natri để cho một dung dịch rửa chén, bát có khả năng tẩy sạch các vết bẩn, dầu mỡ, khử mùi hôi từ thực phẩm, mùi tanh từ cá loại thịt, cá. Đồng thời là sản phẩm an toàn cho người sử dụng, có tác dụng dưỡng da, an toàn và đặc biệt rất thân thiện với môi trường, góp phần chống ô nhiễm nguồn nước, hạn chế tai nạn trong chăn nuôi. * Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm + Quy trình chế biến dung dịch rửa chén, bát từ quả chanh. + Phương pháp kiểm tra hiệu quả của dung dịch rửa chén, bát từ quả chanh bằng phiếu điều tra và phỏng vấn trực tiếp người dùng sản phẩm. 5.1. Tìm hiểu về cây chanh: Cây chanh có tên khoa học Citrus aurantifolia thuộc họ Rutaceae – Cam chanh. Cây chanh hiện nay có nhiều giống từ giống nguyên bản đến chanh lai : chanh ta, chanh giấy, chanh đào, chanh tứ quý, chanh thơm Inđo, chanh không hạt, chanh Eureka . Dù là loại chanh nào thì hiện nay đều được cải tạo giống để tăng năng suất và chất lượng. Hiện nay loại chanh ghép được ưa chuộng với nhiều ưu điểm: quả to tròn đều với màu sắc đẹp, sai quả : chỉ 2 năm thu được 40kg/ cây, cây trên 3 tuổi >100kg/ cây, quả không bị bọ xít đục. Các loài chanh có ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất TT Tên loài Tên tiếng Anh Tên tiếng Việt 1 C. limon Lemon Chanh ta 2 C. medica Citron Chanh núm 3 C. aurantifolia Lime Chanh vỏ mỏng có núm 4 C. trifoliate Tritoliate (poncirus) Chanh đắng (chanh 3 lá) 5.1.1. Đặc điểm thực vật: 3
- Cây chanh là một cây bụi nhỏ, thân gỗ, có nhiều cành nhánh, có chiều cao chỉ khoảng 0.5-3m, có nhiều gai trên thân, thân lá có hương thơm khi tác động. Lá chanh màu xanh đậm, dày, cứng với nhiều mép lá hình răng cưa, hình trứng thuôn nhọn ở hai đầu. Hoa chanh cũng đi vào thơ ca với hình dáng chân quê như rất thơm. Hoa chanh có màu hơi ngả vàng xanh hoặc trắng tinh khôi, đôi chỗ pha màu tím nhạt, hoa 5 cánh nhỏ xinh. Hoa mọc đơn lẻ hoặc tạo chùm 2-3 bông. Quả chanh rộ vào tháng 5-9, quả chín sau 5-6 tháng khi hoa nở, có loại cho quả quanh năm như chanh tứ quý. Quả chanh khi còn non có màu xanh đậm, khi chín chuyển vàng, hình cầu tròn trịa, vỏ bóng, mỏng, với nhiều múi và hạt. Chanh có vị rất chua với hàm lượng axit cao cùng vị thơm nồng dễ chịu. 5.1.2. Nguồn gốc và phân bố: Chanh ta có nguồn gốc từ Đông Nam Á, sau đó lan truyền qua Trung Đông, tới Bắc Phi rồi tới Sicilia, Andalusia, rồi theo chân những người Tây Ban Nha khám phá Tân thế giới đến khu vực Tây Ấn Độ, bao gồm cả chuỗi đảo Florida. Từ vùng biển Caribê, giống chanh này lan tới các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới ở Bắc Mỹ, bao gồm México, Florida và sau đó là California. Sau khi Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ được ký kết, nhiều giống chanh ta ở thị trường Hoa Kỳ đã được trồng tại Trung Mỹ và México. Chúng cũng được trồng tại Texas và California. Ngoài ra cây chanh núm được các tài liệu cổ nghi lại là có suất sứ lâu đời nhất vào năm 1150 ở vùng biểm Địa Chung Hải, Bắc Phi và Châu Âu. Ở nước ta, cây chanh được trồng khắp nơi. Một số tài liệu cho rằng từ năm 1956, nước ta bắt đầu xuất khẩu quả chanh. Các giống chanh phổ biến ở Việt Nam *Chanh giấy - Tên thường gọi: Chanh giấy - Tên khoa học: : Citrus aurantifolia - Tên tiếng anh :“giấy” lime Cây có nhiều gai, tán hình oval, cành phân bố đều, lá dầy đặc, được ưa chuộng vì vỏ mỏng (1 - 1,2 mm), nhiều nước, múi xanh nhạt, có vị thơm, quả hình cầu, đường kính từ 3,5 - 4,0 cm, quả nặng bình quân 40 gram, có khoảng 4 - 6 hạt. Chanh giấy được trồng thuần hay trồng xen với mít, cam, bưởi Hoa thuộc loại hoa đủ, mọc thành chùm.Vỏ quả có màu xanh khi còn non và chuyển sang màu vàng xanh khi chín, Chanh giấy con tép màu xanh bóng, nước quả khá, mùi vị thơm, chua và có nhiều hạt. Chanh giấy được trồng nhiều vùng đất phù sa ngọt ven sông. *Chanh tàu (Chanh núm) -Tên thường gọi: Chanh Tàu bông tím hay chanh Núm -Tên tiếng Anh: Citrus limonia 4
- -Tên tiếng Anh: “Tàu” lemon Cây ít gai, tán dầy đặc, trái hình cầu, to, vỏ màu xanh đậm và hơi sần hơn chanh chùm, con tép màu vàng nhạt, trái to, nhiều nước. Quả tròn, đầu quả có núm ngắn. Kích thước từ 4,0 - 4,8 cm, quả nặng từ 45 - 50 gram. Vỏ dày hơn chanh giấy từ 1,5 - 1,8mm. Múi màu xanh vàng, nhiều nước, khoảng 5 - 7 hạt. Được ghi nhận có 2 giống chanh tàu bông tím đậm và chanh tàu bông tím lợt Chanh núm *Chanh không hạt (nhập từ Mỹ). - Tên thường gọi: Chanh không hạt - Tên Khoa học: Citrus latifolia - Tên tiếng Anh: “Seedless” lime Đây là giống nhập nội + Quả xanh bóng, vỏ trái mỏng, không hạt, rất thơm, nhiều nước, kích thước trái đồng đều. Khi cây đã trưởng thành, gai sẽ bị thoái hoá nên dễ dàng chăm sóc và thu hoạch. + Trọng lượng trái trung bình 70 - 100 gram, 10 - 15 quả/kg. + Thu hoạch sau 1 năm trồng, có thể thu hoạch trái vụ. + Khai thác kinh doanh trên 10 năm. + Lá lớn, gai nhỏ, tược dài, cho trái chùm năng suất cao. + Thích hợp với khoảng cách từ 3,5-4m/cây. + Năng suất đạt khá cao, năm thứ 4 là 50- 60 tấn/ha, nếu chăm sóc tốt có thể đạt trên 90 tấn/ha. Chanh không hạt 5.1.3. Thành phần hóa học có trong quả chanh: Thành phần các chất có trong quả chanh ta theo trang 5
- - Vỏ quá chanh. Lớp vỏ xanh ngoài chứa tinh dầu, thường 3.000 quả đến 6.000 quả cho 1 lít tinh dầu chanh (theo kiểu vắt tươi) mỗi quả cho khoảng 0,5ml tinh dầu, vỏ trắng chứa pectin. - Tinh dầu chanh là một chất lỏng màu vàng nhạt, mùi thơm chanh, tỷ trọng ở 15° từ 0,857 đến 0,862. Dưới tác dụng của khí trời và ánh sáng, tinh dầu chanh sẽ để lắng một chất đặc và nhầy, tỷ trọng cũng tăng lên, 90-95% tinh dầu chanh là những hợp chất tecpen trong đó có d. limonen, một ít α pinen, β phelandren, camphen và γ tecpinen. - Mùi thơm của tinh dầu chanh là do các hợp chất oxy và chiếm từ 3-5% gồm xitrala và một ít xitronelala. Ngoài ra người ta còn thấy trong tinh dầu chanh axetat geranyl và axetat linalyla. - Dịch quả chanh: Trung bình 50 quả chanh cho 1 lít dịch quả chanh. Trong dịch quả chanh có 80-82% nước, 5-7% axit xitric, có khi tới 10% (mùa thu tỷ lệ axit cao hơn mùa hạ), chừng 1- 2% xitrat axit canxi và kali, một ít xitrat etyl và chừng 0,4-0,5% axit malic. Ngoài ra còn 0,4-0,75% đường interverti, 0,5% sacaroza, 0,75-1% protit. Độ tro 0,5%, vitamin C 65mg trong 100g dịch tươi, vitamin B1 và riboflavin. - Lá chanh chứa tinh dầu mùi thơm dễ chịu. Hàm lượng tinh dầu trong lá thay đổi từ 0,33-0,5%. Ngoài ra còn chất stachydrin, một dẫn xuất của prolin. Dưa vào tiêu chuẩn quốc gia TCVN 8901:2011 (EN 1137:1994) về Nước rau quả - Xác định hàm lượng axit xitric (xitrat) bằng enzym - Phương pháp đo phổ NADH. Định lượng cân khoảng 2,5 g (chính xác đến mg) mẫu thử, cho vào một bình đã cân bì. Hòa tan trong 40 ml nước và chuẩn độ với dung dịch natri hydroxyd 1 N, dùng chỉ thị là dung dịch phenolphtalein (TS). Mỗi ml dung dịch natri hydroxyd 1 N tương đương với 64,04 mg C6H8O7 5.1.4. Công dụng của quả chanh: Qua tìm hiểu chúng em được biết Trong quả chanh có rất nhiều vi chất: axit citric, vitamin C, B1, kali, riboflavin nên chanh được lựa chọn làm nước giải khát, giải nhiệt bổ dưỡng. Khi mệt mỏi pha chút chanh với nước đường, mật ong, bỏ thêm vài hạt muối giúp cho cơ thể tỉnh táo, sảng khoái, xua tan căng thẳng. Chanh còn là vị thuốc nổi tiếng, hữu hiệu đối với những bệnh ho gió, ho khan. Chỉ cần thái chanh ra thành những lát mỏng rồi đem hấp với mật ong và gừng. Hạt và vỏ chanh tốt cho gan nên thường được dùng chế thuốc trị bao tử và bổ gan. Hạt chanh kết hợp với mật ong còn giúp tẩy giun cho trẻ. Để chữa còi xương cho trẻ em hoặc xốp xương người lớn người ta dùng trứng gà ngâm chanh. Dùng gừng và rễ chanh tạo vị rất đắng giúp trị tiêu chảy, bệnh gan, chống phóng xạ, trị ngộ độc thức ăn . Vỏ quả và rễ còn dùng làm thuốc trị được nhiều loại bệnh: mang thai bị nôn ói, cảm cúm, kén ăn, nhức đầu Chữa tiểu đường, rối loạn tiêu hóa, sỏi thận, thấp khớp bằng cách ngậm chanh Tinh dầu trên vỏ quả giúp làm mất các vết đen do mụn đầu đen, trứng cá. 6
- Trong nội trợ, chanh cũng rất hữu ích với chị em: + Xát chanh lên cá, thịt sẽ khử hiệu quả mùi hôi, tanh. + Để giúp các loại rau củ như khoai tây, súp lơ không bị thâm sau luộc ta dùng 1 thìa cà phê nước cốt chanh tươi vào nồi nước luộc. + Dùng bông tẩm nước chanh vào góc tủ lạnh để khử mùi hôi. + Làm sáng đồ nhôm bị xỉn bằng cách dùng chanh chà xát lên bề mặt. + Cho ít nước cốt chanh vào nước nấu cơm làm cơm không bị vón cục. + Khử mùi và diệt vi khuẩn cho thớt bằng cách dùng chanh chà xát lên mặt thớt. 5.1.5 Hoạt tính sinh học của cây chanh ta: Theo nghiên cứu của các nhà khoa học trong quả chanh ta có chứa các hợp chất phenolic có hoạt tính sinh học cao như chống oxi hóa, tác dụng phòng ngừa ung thư và các bệnh liên quan đến tim mạch. 5.2.Tìm hiểu về ứng dụng của giấm trắng: Giấm là một chất lỏng có vị chua, được hình thành từ sự lên men của rượu etylic (công thức hóa học là C2H5OH). Thành phần chính của giấm là dung dịch axit axêtic (CH3COOH) có nồng độ khoảng 5%. * Nguồn gốc của giấm Loài người đã biết chế tạo và sử dụng giấm từ nhiều ngàn năm trước. Khoảng 5000 năm trước công nguyên, người Babylon đã biết dùng trái chà là để làm rượu và giấm. Vết tích của giấm đã được tìm thấy ở Ai Cập cổ đại từ 3000 năm trước công nguyên. Theo sự tích Thần Nông, giấm cũng được tìm thấy ở Trung Quốc từ đời nhà Hạ, 2000 năm trước công nguyên. 500 năm trước công nguyên, ở Hy Lạp, Hippocrates, vị cha đẻ của ngành y học hiện đại, đã dùng giấm làm từ nước táo hòa với mật ong để trị những bệnh ho và cảm lạnh. Trong Thánh kinh Công giáo, giấm được miêu tả như là thứ gì đó không "vui", nhưng Boaz cũng cho phép Ruth được chấm mẩu bánh mì của cô ấy vào giấm. Chúa Giê Su khi bị đóng đinh trên thập tự giá 2000 năm trước cũng được dâng giấm. Trong truyền thống Hồi giáo cũng được kể giấm là một trong 4 gia vị thích nhất của tiên tri Muhammad, ông gọi đó là gia vị được ban phước. Năm 1864, Louis Pasteur đã chứng minh giấm là kết quả từ một quá trình lên men tự nhiên. *Một số ứng dụng của giấm - Ứng dụng trong thực phẩm: Làm gia vị pha nước chấm, làm các món nộm rau sống, nấu canh chua. Dùng để ngâm các loại gia vị, bảo vệ các chất dinh dưỡng cho rau khi đun nấu; bảo quản thực phẩm, tiêu diệt vi khuẩn và độc tố có trong thực phẩm, ngăn chặn sự sinh sản của vi khuẩn; giảm độ béo của các loại thực phẩm như thịt, cá, giữ cho các vi chất tan trong nước không bị phân hủy khi đun, nấu. Giấm giúp cơ thể tăng cường hấp thu canxi và các vi chất. - Ứng dụng trong dược phẩm - mỹ phẩm: Kích thích tiết dịch vị, thúc đẩy quá trình tiêu hóa, giúp ăn ngon miệng, tăng cường thể lực; tiết cân nặng, ăn giấm có tác dụng tiêu mỡ, kiểm soát cholesterol, lọc và đào thải chất cặn bã ra ngoài, giúp giảm béo hiệu quả, hạ huyết áp – ổn định huyết áp, thông đại tiểu tiện. Acid acetic trong giẩm giúp bảo vệ cơ thể, tăng khả năng hấp thụ vitamin 7
- C, giúp cơ thể luôn khỏe mạnh. Chống ung thư và các khối u: giấm loại bỏ độc tố, ngăn chặn sự hình thành của chất nitrosami (chất gây ung thư), thúc đẩy quá trình trao đổi chất, tăng khả năng miễn dịch. Giấm làm giảm mệt mỏi: với lượng giấm vừa phải có thể giảm hàm lượng của acid lactic có trong cơ thể và làm mềm cơ bắp. Giấm làm dịu cơn đau họng; trị viêm xoang, viêm phế quản, phòng và chữa bệnh phụ khoa; uống giấm giúp tinh thần thoải mái. Đối với trẻ em giấm tạo cảm giác thèm ăn ở trẻ, giấm giúp trẻ em tăng cường hấp thu vitamin C, Canxi và các vi chất có trong thức ăn nhiều hơn. Giấm rất giàu Vitamin B1, B2, C sử dụng thường xuyên tốt cho da, làm đẹp da mượt, hỗ trợ điều trị da cháy nắng, làm sạch da – tẩy da chết, khử mùi hôi của da, hỗ trợ điều trị tàn nhang, nám má, viêm da, mụn trứng cá - Ứng dụng trong sức khỏe và đời sống: chữa ngứa da, hoặc da tay bị nóng (khi cắt ớt, gừng), bị ngứa (khi cắt khoai môn). Ngâm châm với giấm giúp khử mùi hôi chân; diệt cỏ dại; tăng độ acid của đất; ngăn ngừa kiến; đánh bóng sơn xe; khử mùi hôi ở chó; lau sàn nhà và diệt khuẩn; làm tươi rau bị héo; làm dịu vết ong đốt, vết rắn cắn hoặc sứa đốt; chữa da bị cháy nắng, làm dầu xả cho tóc; giúp da bớt khô và ngứa; trị gàu; khử mùi nấu nướng, trong cống, thông cống (kết hợp với soda); khử mùi hành; làm sạch và diệt khuẩn cho thớt gỗ; tẩy sạch mủ, nhựa trái cây dính ở tay; rửa sạch bình, ấm trà khi có vết ố vàng, làm sạch hộp đựng thức ăn, tủ lạnh; rửa, khử mùi chai lọ, làm sạch máy rủa chén, máy giặt; tẩy vết hoen rỉ vật bằng kim loại; làm sạch lò nướng, lò vi sóng và khử mùi hôi; làm thông bàn ủi hơi nước, tẩy vết cháy trên bàn ủi; tẩy vết bẩn trên quần áo; khử mùi thuốc lá; làm sạch lớp decal dính trên vải; làm sáng kính mắt, giữ hoa tươi lâu; dập lửa 5.3. Tìm hiểu về muối clorua natri (NaCl): *Lịch sử của muối Khả năng bảo quản của muối là cơ sở của các nền văn minh. Nó góp phần loại bỏ sự phụ thuộc vào khả năng cung ứng thực phẩm theo mùa và cho phép con người có thể đi xa khỏi nơi cư trú mà không lo sợ thiếu thực phẩm. Vào thời Trung cổ, các đoàn lữ hành cùng với khoảng 40.000 lạc đà đã đi tới 4.000 dặm xuyên qua Sahara có chở theo muối, đôi khi để trao đổi lấy nô lệ. Cho đến những năm đầu thế kỷ 20, muối vẫn còn là một trong các động cơ chủ yếu của các nền kinh tế và các cuộc chiến tranh. Muối đóng một vai trò nổi bật trong việc xác định quyền lực và sự phân bổ vị trí của các thành phố lớn nhất trên thế giới. Timbuktu đã từng là một trong các thị trường muối lớn nhất. Liverpool phát triển từ một cảng nhỏ của Anh để trở thành hải cảng xuất khẩu chủ yếu đối với các loại muối mỏ được khai thác từ mỏ muối lớn Cheshire và vì thế trở thành nguồn của muối thế giới trong những năm thế kỷ 19. Muối đã tạo ra và hủy diệt các vương quốc. Các mỏ muối ở Ba Lan đã dẫn tới sự ra đời của hoàng loạt các vương quốc trong thế kỷ 16, và chỉ bị tiêu diệt khi người Đức đưa ra loại muối biển (thông thường, đối với phần lớn trên thế giới, được coi là 'hơn hẳn' muối mỏ). Người Venezuela đã đánh nhau và giành thắng lợi trong cuộc chiến với người Genova về vấn đề muối. Tuy nhiên, người Genova mới là người giành thắng lợi cuối cùng. Những công dân Genova như Christopher Columbus và Giovanni Caboto đã "phá hủy" thương 8
- mại ở Địa Trung Hải bằng việc giới thiệu Tân Thế giới đối với thị trường. Muối đã từng là một trong số các hàng hóa có giá trị nhất đối với loài người. Muối đã từng bị đánh thuế có lẽ từ thế kỷ 20 TCN ở Trung Quốc. Trong thời kỳ Đế chế La Mã, muối đôi khi được sử dụng như là đơn vị tiền tệ, và có lẽ là nguồn gốc của từ salary ("salt money"-tức tiền muối, xem dưới đây từ nguyên học). Cộng hòa La Mã và Đế chế La Mã đã kiểm soát giá muối, tăng nó để có tiền cho các cuộc chiến hay giảm nó để đảm bảo cho các công dân nghèo nhất cũng có thể dễ dàng có được phần quan trọng trong khẩu phần thức ăn này. Trong tiến trình lịch sử, muối ăn đã có ảnh hưởng tới diễn biến các cuộc chiến, chính sách tài chính của các nhà nước và thậm chí là sự khởi đầu của các cuộc cách mạng. Tại đế chế Mali, các thương nhân ở Timbuktu thế kỷ 12 - cánh cửa tới sa mạc Sahara và trung tâm văn học - đánh giá muối có giá trị đến mức chỉ có thể mua nó theo trọng lượng tính đúng bằng trọng lượng của vàng; việc kinh doanh này dẫn tới truyền thuyết về sự giàu có khó tưởng tượng nổi của Timbuktu và là nguyên nhân dẫn tới lạm phát ở châu Âu, là nơi mà muối được xuất khẩu tới. Thời gian sau này, ví dụ trong thời kỳ đô hộ của người Anh thì việc sản xuất và vận chuyển muối đã được kiểm soát ở Ấn Độ như là các biện pháp để thu được nhiều tiền thuế. Điều này cuối cùng đã dẫn tới cuộc biểu tình muối ở Dandi, do Mahatma Gandhi dẫn đầu vào năm 1930 trong đó hàng nghìn người Ấn Độ đã ra biển để sản xuất muối cho chính họ nhằm phản đối chính sách thuế của người Anh. Việc buôn bán muối dựa trên một thực tế — nó đem lại nhiều lợi nhuận hơn khi bán các thực phẩm có chứa muối chứ không phải chính muối. Trước khi các mỏ muối ở Cheshire được phát hiện thì việc kinh doanh khổng lồ các loại cá của người Anh đối với muối của người Pháp đã từng tồn tại. Điều này không phải là sự hòa hợp tốt đẹp cho mỗi quốc gia khi họ không muốn phụ thuộc vào nhau. Cuộc tìm kiếm cá và muối đã dẫn tới cuộc chiến tranh bảy năm giữa hai nước. Với sự kiểm soát của người Anh đối với nghề muối ở Bahamas và cá tuyết Bắc Mỹ thì tầm ảnh hưởng của họ đã tăng lên nhanh chóng trên thế giới. Việc tìm kiếm các mỏ dầu vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 đã sử dụng các công nghệ và phương thức mà những người khai thác muối đã dùng, thậm chí đến mức mà họ tìm kiếm dầu ở những nơi có các mỏ muối. * Tác dụng của muối Muối tinh, được sử dụng rộng rãi hiện nay, chủ yếu là chứa clorua natri (NaCl). Tuy nhiên, chỉ có khoảng 7% lượng muối tinh được sử dụng trong đời sống hàng ngày như là chất thêm vào thức ăn. Phần lớn muối tinh được sử dụng cho các mục đích công nghiệp, từ sản xuất bột giấy và giấy tới việc hãm màu trong công nghệ nhuộm vải hay trong sản xuất xà phòng và chất tẩy rửa và nó có một giá trị thương mại lớn. Các chất chống đóng bánh hoặc iốtua kali (KI) (nếu làm muối iốt) sẽ được thêm vào trong giai đoạn này. Các chất chống đóng bánh là các hóa chất chống ẩm để giữ cho các tinh thể muối không dính vào nhau. Một số chất chống ẩm được sử dụng là tricanxi phốtphát, cacbonat canxi hay magiê, muối của các axít béo, ôxít magiê, điôxít silic, silicat nátri-nhôm, hay silicat canxi-nhôm. Cũng lưu ý rằng có thể có độc tính của nhôm trong hai hóa chất sau cùng, tuy nhiên cả 9
- liên minh châu Âu (EU) và FDA của Mỹ vẫn cho phép sử dụng chúng với một liều lượng có điều chỉnh. Muối ăn ngày nay là muối tinh, chứa chủ yếu là clorua nátri nguyên chất (95% hay nhiều hơn). Nó cũng chứa các chất chống ẩm. Thông thường nó được bổ sung thêm iốt dưới dạng của một lượng nhỏ iốtua kali. Nó được sử dụng trong nấu ăn và làm gia vị. Muối ăn chứa iốt làm tăng khả năng loại trừ các bệnh có liên quan đến thiếu hụt iốt. Iốt là chất quan trọng trong việc ngăn chặn việc sản xuất không đủ của các hoóc môn tuyến giáp, thiếu iốt là nguyên nhân của bệnh bướu cổ hay chứng đần ở trẻ em và chứng phù niêm ở người lớn. *Các ứng dụng về sức khỏe: Natri là một trong những chất điện giải cơ bản trong cơ thể. Quá nhiều hay quá ít muối ăn trong ăn uống có thể dẫn đến rối loạn điện giải, có thể dẫn tới các vấn đề về thần kinh rất nguy hiểm, thậm chí có thể gây chết người. Việc sử dụng quá nhiều muối ăn còn liên quan đến bệnh cao huyết áp. Các chất thay thế cho muối ăn (với mùi vị tương tự như muối ăn thông thường) cho những người cần thiết phải hạn chế ion natri Na + trong cơ thể, chủ yếu là chứa clorua kali (KCl). Lợi ích khác của muối Muối dùng để ướp các thực phẩm tươi sống như cá, tôm, cua, thịt trước khi chế biến để tránh bị ươn, hư, dùng làm chất bảo quản cho các thực phẩm, để làm một số món ăn như muối dưa, muối cà, làm nước mắm,... Do có tính sát trùng nên muối ăn còn được pha loãng làm nước súc miệng hay rửa vết thương ngoài da. Muối ăn không chỉ dùng để ăn mà còn dùng cho các việc khác trong ngành công nghiệp đặc biệt là ngành hóa chất: 2NaCl + 2H2O (điện phân dung dịch có màng ngăn)-> 2NaOH + H2 + Cl2 NaOH dùng làm điều chế xà phòng, công nghiệp giấy. H2 làm nhiên liệu, bơ nhân tạo, sản xuất axit. Cl2 sản xuất chất dẻo, chất diệt trùng và sản xuất HCl NaCl (điện phân nóng chảy) -> Na + 1/2Cl2 Na điều chế hợp kim, chất trao đổi nhiệt,chất tẩy rửa 2NaOH + Cl2 -> NaCl + NaClO + H2O NaClO là chất sản xuất tẩy rửa, diệt trùng NaClO + H2O + CO2 -> NaHCO3 + HClO NaHCO3 dùng để sản xuất thủy tinh, xà phòng, chất tẩy rửa tổng hợp 5.4. Quy trình điều chế dung dịch rửa chén, bát từ quả chanh : 5.4.1. Thành phần và tỉ lệ kết hợp có trong dung dịch rửa chén, bát từ quả chanh : Dưa vào tiêu chuẩn quốc gia TCVN 8901:2011 (EN 1137:1994) về Nước rau quả - Xác định hàm lượng axit xitric (xitrat) bằng enzym - Phương pháp đo phổ NADH. Chúng em tính đươc kết quả của hàm lượng axit xitric có trong một 100g nước chanh =2561,6 mg. Chúng em đã tính toán để có được một lượng axit xitric tự nhiên phù hợp an toàn cho người sử dụng và đảm bảo cho việc tẩy rửa. Chúng em đã tính toán hàm lượng của 100g nước chanh = 10 quả = 550g quả = 2561,6mg axit xitric. 10
- Từ các cơ sở trên chúng em đã thử điều chế dung dịch rửa chén bát ở một số tỉ lệ nhất định ( ngoài tỉ lệ này chúng em còn dựa theo cách làm từ dân gian). Công thức điều chế dung dịch rửa chén, bát từ quả chanh: + Công thức 1: 2 quả chanh + 100ml giấm trắng +0,05g muối + 500ml nước + Công thức 2: 4 quả chanh + 100ml giấm trắng +0,05g muối + 500ml nước + Công thức 3: 6 quả chanh + 100ml giấm trắng +0,05g muối + 500ml nước + Công thức 4: 8 quả chanh + 100ml giấm trắng +0,05g muối + 500ml nước Bằng cách thực nghiệm của sản phẩm đối với sinh vật và môi trường sống: - Để chứng minh độ an toàn của nước rửa chén sinh học mà do chúng em chế tạo đối với cây trồng, sau mỗi lần rửa chén em lấy nước đó tưới cho luống rau muống và rau cải xanh của nhà em trong vòng ba tuần rồi quan sát, chúng em nhận thấy những cây rau được tưới bằng nước rửa chén sinh học này vẫn xanh tốt bình thường. - Để chứng tỏ độ an toàn của nước rửa chén đối với động vật chúng em pha nước rửa chén sinh học với nước sạch với tỉ lệ 0.5-1% rồi thả cá cảnh loại nhỏ và thử nghiệm nuôi trong 10 ngày rồi quan sát, chúng em nhận thấy cá vẫn sống khỏe mạnh và ăn bình thường, nước vẫn trong, không đổi màu do nước rửa chén. Qua các lần thử nghiệm chúng em thấy dung dịch nước rửa chén, bát từ quả chanh theo công thức 2: (4 quả chanh + 100ml giấm trắng +0,05g muối + 500ml nước) là tối ưu nhất. 5.4.2 Quy trình điều chế dung dịch rửa chén, bát từ quả chanh: *Nguyên liệu: - 4 quả chanh - 100ml giấm trắng - 500ml nước - 0,05g muối tinh *Cách làm: Bước 1: - Rửa sạch chanh, sau đó cắt chanh thành các lát nhỏ, loại bỏ phần hạt chanh. Bước 2: - Cho toàn bộ phần chanh đã cắt vào chảo nhỏ, đổ nước xấp bề mặt, sau đó vặn lửa to để đun sôi. Nước sôi vặn lửa nhỏ và đun tiếp khoảng 20 phút rồi bắc ra. 11
- Bước 3: - Đổ hỗn hợp chanh vừa đun vào máy xay sinh tố, đổ nước xấp bề mặt sau đó xay cho đến khi hỗn hợp chanh nhuyễn ra. Bước 4: - Đổ hỗn hợp vừa xay nhuyễn vào chảo, đun tiếp cho đến khi sôi thì thêm giấm và muối vào. Tiếp tục đun lửa nhỏ trong thời gian 10-15 phút rồi tắt bếp. Bước 5: Để nguội dung dịch nước rửa chén vừa đun, sau đó đựng chúng trong các lọ thủy tinh để sử dụng. 6. Nội dung nghên cứu: - Nghiên cứu thành phần các chất chứa trong quả chanh hay giấm trắng là những chất tẩy rửa tuyệt vời đến từ thiên nhiên, giúp bạn đánh bay các vết bẩn và khử mùi hiệu quả cho bát đĩa nhà mình. - Nghiên cứu chất chứa trong quả chanh là Axit citric về khả năng tẩy rửa các vết bẩn và khử mùi. - Nghiên cứu hoạt tính sinh học của quả chanh - Nghiên cứu chất bảo quả thực phẩm muối clorua natri (NaCl) - Nghên cứu quy trình chế biến dung dịch rửa chén, bát từ quả chanh từ dân gian 7. Những điểm mới của đề tài: - Nêu được quy trình và công thức sản xuất dung dịch rửa chén, bát từ quả chanh. - Dung dịch rửa chén, bát từ quả chanh để được thời gian tương đối lâu đã loại bỏ được nhược điểm của dung dịch rửa bát sinh học thông thường là rễ bị thiu, chỉ dùng được vài ngày. 12
- - Dung dịch rửa chén, bát từ quả chanh đã được một số nhà hàng của huyện Tân Sơn đăng ký mua để dùng. II. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 1. Kết quả tẩy rửa các vết bẩn và khử mùi hiệu quả cho bát đĩa từ dung dịch rửa chén , bát từ quả chanh: 1.1. Kết quả thí nghiệm dung dịch rửa chén, bát từ quả chanh tại phòng thí nghiệm: Các thí nghiệm của dung dịch rửa chén, bát từ quả chanh ta được thử nghiệm tài phong thực hành hoá học và sinh học của nhà trường. + Công thức 1: 2 quả chanh + 100ml giấm trắng +0,05g muối + 500ml nước + Công thức 2: 4 quả chanh + 100ml giấm trắng +0,05g muối + 500ml nước + Công thức 3: 6 quả chanh + 100ml giấm trắng +0,05g muối + 500ml nước + Công thức 4: 8 quả chanh + 100ml giấm trắng +0,05g muối + 500ml nước Kết quả thí nghiệm: Kết quả tẩy rửa của dung dịch rửa chén, bát từ quả chanh ta sau nhiều lần thử khác nhau, ở các môi trường khác nhau đều cho biết được kết quả ở công thức 2: (4 quả chanh + 100ml giấm trắng +0,05g muối + 500ml nước) là chất lượng tốt nhất. Sau 1 tháng bảo quả ở môi trường thông thường thì dung dịch rửa chén, bát từ quả chanh ta đều không bị thiu. Làm thí nghiệm với 4 công thức của dung dịch rửa chén, bát từ quả chanh ta 1.2. Kết quả thử nghiệm dung dịch rửa chén, bát từ quả chanh ta trên các hộ dân: Được sự đồng ý của Ban giám hiệu trường THCS Long Cốc – Xã Long Cốc và sự giám sát của các thầy cô giáo cùng với sự đồng ý của 15 hộ dân tham gia dùng thử sản phẩm dung dịch rửa chén, bát từ quả chanh ta. Kết quả thử nghiệm sau 1 tuần đánh giá sản phẩm cho thấy Cac hộ gia đình tham gia đánh giá chất lượng dung dịch rửa chén, bát từ quả chanh ta công thức công thức 1 công thức 2 công thức 3 công thức 4 hộ hộ1 chưa tốt tốt chưa tốt tốt hộ 2 chưa tốt tốt tốt chưa tốt hộ 3 chưa tốt tốt tốt tốt hộ 4 chưa tốt tốt tốt chưa tốt hộ 5 chưa tốt tốt tốt tốt hộ 6 chưa tốt tốt tốt chưa tốt hộ 7 chưa tốt tốt chưa tốt tốt hộ 8 chưa tốt tốt tốt chưa tốt hộ 9 chưa tốt tốt tốt tốt hộ 10 chưa tốt tốt tốt chưa tốt hộ 11 chưa tốt tốt tốt tốt hộ 12 chưa tốt tốt chưa tốt chưa tốt hộ 13 chưa tốt tốt tốt tốt hộ 14 chưa tốt tốt chưa tốt chưa tốt hộ 15 chưa tốt tốt tốt chưa tốt Tổng hợp 100% Chưa tốt 100% Tốt 27% chưa tốt, 78% tốt 47% tốt, 53% chưa tốt 13
- Các thầy, cô giáo tham gia dùng thử dung dịch rửa chén,bát từ quả chanh Từ các kết quả của các hộ dân cũng cho kết quả trùng khớp với kết quả thử nghiệm tại phòng thí nghiêm nhà trường là công thức 2: (4 quả chanh + 100ml giấm trắng +0,05g muối + 500ml nước) là tẩy rửa tốt nhất. 1.3. Thực nghiệm của sản phẩm đối với môi trường sống và sinh vật: - Để chứng minh độ an toàn của dung dịch rửa chén, bát từ quả chanh ta mà do chúng em chế tạo đối với cây trồng, sau mỗi lần rửa chén, bát em lấy nước đó tưới cho luống rau xu hào và rau cải xanh của nhà em trong vòng ba tuần rồi quan sát, chúng em nhận thấy những cây rau được tưới bằng nước rửa này vẫn xanh tốt bình thường. Dung dịch rửa chén, bát từ quả chanh ta được đem thử nghiệm vớ cây trồng. - Để chứng tỏ độ an toàn của nước rửa chén, bát đối với động vật chúng em pha nước rửa chén,bát từ quả chanh ta với nước sạch với tỉ lệ 0.5-1% rồi thả cá cảnh loại nhỏ và thử nghiệm nuôi trong 10 ngày rồi quan sát, chúng em nhận thấy cá vẫn sống khỏe mạnh và ăn bình thường, nước vẫn trong, không đổi màu do nước rửa chén, bát. Thử nghiệm độ an toàn của dung dịch rửa chén, bát từ quả chanh trên đông vật 14
- 2. Thảo luận - Trong thành phần của quả chanh ta có một số chất có tác dụng tẩy rửa rất cao, khi phối hợp với giấm trắng và muối tinh thì sẽ làm tăng tác dụng tẩy rửa cao hơn cho kết quả bảo quản lâu hơn. - Không có dị ứng của người sử dụng sản phẩm: mẩn đỏ, bong ra, ngứa chứng tỏ dung dịch rửa chén, bát từ quả chanh ta an toàn đối với con người. - Như vậy sau khi sử dụng dung dịch rửa chén, bát từ quả chanh ta song thì chén, bát còn có mùi thơm rễ chịu từ tinh dầu của quả chanh. III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Kết luận Qau thời gian thực hiện của đề tài chúng em đã thu được các kết quả sau: - Trong thành phần của quả chanh ta có một số chất có tác dụng tẩy rửa rất cao, khi phối hợp với giấm trắng thì sẽ làm tăng tác dụng tẩy rửa cao hơn. Do đó dung dịch rửa chén, bát từ quả chanh ta có thể sản suất để phục vụ nhân dân - Xây dựng được công thức và quy trình chế biến dung dịch rửa chén, bát từ quả chanh ta từ nguồn nguyên liệu tự nhiên sẵn có, rễ kiếm, rẻ tiền. Quy trình điều chế đơn giản, dễ thực hiện - Dung dịch rửa chén, bát từ quả chanh ta có tính an toàn cao khi sử dụng. - Dung dịch rửa chén, bát từ quả chanh ta rễ bảo quản, có thời gian sử dụng dài do đó thuận tiện cho người sử dụng mở ra triển vọng sản xuất trên khối lượng lớn cung cấp ra thị trường. Sản phẩm được đóng chai hoàn thiện 2. Kiến nghị Qua một thời gian nghiên cứ đề tài chúng em có một số kiến nghị sau: - Tiếp tục nghiên cứu thời gian bảo quản tối đa của dung dịch là bao nhiêu - Tiếp tục tìm ra công thức pha chế hiệu quả hơn, có nhiều bọt hơn. 15
- IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO - SGK Hóa học 9 – NXB Giáo dục 2016 - SGK Sinh học 6,7,8,9 - NXB Giáo dục 2016 - Những đề tài của các cuội thi nghiên cứu khoa học được tổ chức hàng năm - Một số trang web: › tcvn › cong-nghe-thuc-pham › TCVN-8901-2011 16

