Đề thi thử Tốt nghiệp Trung học Phổ thông môn Ngữ Văn Lớp 12 - Đề số 2 - Năm học 2023-2024 (Có đáp án)
Bạn đang xem tài liệu "Đề thi thử Tốt nghiệp Trung học Phổ thông môn Ngữ Văn Lớp 12 - Đề số 2 - Năm học 2023-2024 (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
de_thi_thu_tot_nghiep_trung_hoc_pho_thong_mon_ngu_van_lop_12.pdf
Nội dung tài liệu: Đề thi thử Tốt nghiệp Trung học Phổ thông môn Ngữ Văn Lớp 12 - Đề số 2 - Năm học 2023-2024 (Có đáp án)
- ĐỀ MINH HỌA CHUẨN ĐỀ THI THỬ TN THPT NĂM 2024 CẤU TRÚC 2024 Môn thi thành phần: Ngữ Văn Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề ĐỀ SỐ 02 Họ, tên thí sinh: Số báo danh: I. ĐỌC - HIỂU (3,0 điểm) Đọc văn bản: Thư chị gửi về sao em thấy nhói đau Chị bảo rằng: Chiến tranh ngày càng ác liệt Mong manh lắm sự sống và cái chết Trước đạn bom vẫn ngẩng cao đầu Đêm Noel ấy, Chúa ở đâu? Để Lưu Xá nhuốm màu khói lửa Những chị, những anh không còn nữa Đại đội 915 còn lại bao người? Trước bia ghi danh, em bỗng nghẹn lời Gửi vào trang thơ cồn cào thương nhớ Dưới lớp đất kia là 60 ngôi sao nhỏ Lấp lánh đêm đêm canh giấc ngủ cho đời (Trích Bên dòng thư chị, Dương Văn Mưu, Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên) Thực hiện các yêu cầu: Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản trên. Câu 2: Những từ ngữ nào thể hiện tâm trạng của tác giả trước sự hi sinh của những người lính? Câu 3: Anh/chị hiểu như thế nào về nội dung những dòng thơ? Thư chị gửi về sao em thấy nhói đau Chị bảo rằng: Chiến tranh ngày càng ác liệt Mong manh lắm sự sống và cái chết Trước đạn bom vẫn ngẩng cao đầu Câu 4: Nhận xét tình cảm của tác giả dành cho 60 người lính của Đại dội 915 đã hi sinh vào ngày 24/12/1972 qua những dòng thơ: Trước bia ghi danh, em bỗng nghẹn lời Gửi vào trang thơ cồn cào thương nhớ Dưới lớp đất kia là 60 ngôi sao nhỏ Lấp lánh đêm đêm canh giấc ngủ cho đời II. LÀM VĂN (7,0 điểm) Câu 1: (2,0 điểm) Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với đất nước trong bối cảnh hiện nay. Câu 2: (5,0 điểm) Phân tích nhân vật người vợ nhặt trong đoạn trích sau; từ đó nhận xét tư tưởng nhân đạo mà nhà văn gửi gắm trong tác phẩm. Người đàn bà lẳng lặng đi vào trong bếp. Tràng nom thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu đúng mực không còn vẻ gì chao chát chỏng lỏn như mấy lần Tràng gặp ở ngoài tỉnh. Không biết có Trang 1
- phải vì mới làm dâu mà thị tu chí làm ăn không? Bà mẹ Tràng cũng nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường, cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên. Bà lão xăm xắn thu dọn, quét tước nhà cửa. Hình như ai nấy đều có ý nghĩ rằng thu xếp cửa nhà cho quang quẻ, nề nếp thì cuộc đời họ có thể khác đi, làm ăn có cơ khấm khá hơn. Bữa cơm ngày đói trông thật thảm hại. Giữa cái mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rối, và một đĩa muối ăn với cháo, nhưng cả nhà đều ăn rất ngon lành. Bà cụ vừa ăn vừa kể chuyện làm ăn, gia cảnh với con dâu. Bà lão nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng về sau này: - Tràng ạ. Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà. Tao tin rằng cái chỗ đầu bếp kia làm cái chuồng gà thì tiện quá. Này ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có ngay đàn gà cho mà xem... Tràng chỉ vâng. Tràng vâng rất ngoan ngoãn. Chưa bao giờ trong nhà này mẹ con lại đầm ấm, hòa hợp như thế. Câu chuyện trong bữa ăn đang đà vui bỗng ngừng lại. Niêu cháo lõng bõng, mỗi người được có lưng lưng hai bát đã hết nhẵn. Bà lão đặt đũa bát xuống, nhìn hai con vui vẻ: - Chúng mày đợi u nhá. Tao có cái này hay lắm cơ. Bà lật đật chạy xuống bếp, lễ mễ bưng ra một cái nồi khói bốc lên nghi ngút. Bà lão đặt cái nồi xuống bên cạnh mẹt cơm, cầm cái môi vừa khuấy khuấy vừa cười: - Chè đây. - Bà lão múc ra một bát - Chè khoán đây, ngon đáo để cơ. Người con dâu đón lấy cái bát, đưa lên mắt nhìn, hai con mắt thị tối lại. Thị điềm nhiên và vào miệng. Tràng cầm cái bát thứ hai mẹ đưa cho, người mẹ vẫn tươi cười, đon đả: - Cám đấy mày ạ, hì. Ngon đáo để, cứ thử ăn mà xem. Xóm ta khối nhà còn chả có cám mà ăn đấy. Tràng cầm đôi đũa, gợt một miếng bỏ vội vào miệng. Mặt hắn chum ngay lại, miếng cám đắng chát và nghẹn bứ trong cổ. Bữa cơm từ đấy không ai nói câu gì, họ cắm đầu ăn cho xong lần, họ tránh nhìn mặt nhau. Một nỗi tủi hờn len vào tâm trí mọi người. Ngoài đình bỗng dội lên một hồi trống, dồn dập, vội vã. Đàn quạ trên những cây gạo cao chót vót ngoài bãi chợ hốt hoảng bay vù lên, lượn thành từng đám bay vần trên nền trời như những đám mây đen. Người con dâu khẽ thở dài, thị nói lí nhí trong miệng: - Trống gì đấy, u nhỉ? - Trống thúc thuế đấy. Đằng thì nó bắt gồng đay, đằng thì nó bắt đóng thuế. Giời đất này không chắc đã sống qua được đâu các con ạ... Bà lão ngoảnh vội ra ngoài. Bà lão không dám để con dâu nhìn thấy bà khóc. Người con dâu có vẻ lạ lắm, thị lầm bầm: - Ở đây vẫn phải đóng thuế cơ à? Im lặng một lúc thị lại tiếp: - Trên mạn Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu đóng thuế nữa đâu. Người ta còn phá cả kho thóc của Nhật, chia cho người đói nữa đấy. Tràng thần mặt ra nghĩ ngợi. Cái mặt to lớn bặm lại, khó đăm đăm. Miếng cám ngậm trong miệng hắn đã bã ra chát xít... Hắn đang nghĩ đến những người phá kho thóc Nhật. Tràng hỏi vội trong miếng ăn: - Việt Minh phải không? - Ừ, sao nhà biết? Tràng không trả lời. Trong ý nghĩ của hắn vụt hiện ra cảnh những người nghèo đói ầm ầm kéo nhau đi trên đê Sộp. Đằng trước có lá cờ đỏ to lắm. Hôm ấy hắn láng máng nghe người ta nói họ là Việt Minh đấy. Họ đi cướp thóc đấy. Tràng không hiểu gì sợ quá, kéo vội xe thóc của Liên đoàn tắt cánh động đi lối khác. À ra họ đi phá kho thóc chia cho người đói. Tự dưng hắn thấy ân hận, tiếc rẻ vẩn vơ, khó hiểu. Ngoài đình tiếng trống thúc thuế vẫn dồn dập. Mẹ và vợ Tràng đã buông đũa đứng dậy. Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới (Trích Vợ nhặt, Kim Lân, Ngữ văn 12, tập 2, NXB Giáo dục, tr 31,32) HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT Phần Câu Nội dung Điểm I ĐỌC HIỂU 3,0 Trang 2
- 1 Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm. 0,75 2 - Những từ ngữ tể hiện tâm trạng của tác giả trước sự hi sinh của những người lính: 0,75 nhói đau, nghẹn lời, thương nhớ 3 Thí sinh nêu được suy nghĩ về nội dung của những dòng thơ có thể theo hướng: 1,0 - Những dòng thơ thể hiện tâm trạng đau đớn của tác giả khi đọc thư của người chị gửi về. - Những dòng thơ tái hiện sự ác liệt của chiến tranh, ranh giới của sự sống và cái chết rất mong manh. - Những dòng thơ thể hiện sự hiên ngang, bất khuất của người chiến sĩ trước bom đạn của kẻ thù. - Qua những dòng thơ, tác giả thể hiện niềm tự hào, sự khâm phục tinh thần chiến đấu dũng cảm và hi sinh anh dũng của người chiến sĩ. 4 Thí sinh nêu nhận xét tình cảm của tác giả dành cho 60 người lính của Đại dội 915 0,5 đã hi sinh vào ngày 24/12/1972 qua những dòng thơ, có thể theo hướng: - Tác giả dành những tình cảm thiêng liêng của mình cho 60 người lính: + Đó là nỗi nghẹn ngào đau đớn khi đứng trước bia ghi danh 60 người lính đã hi sinh. + Đó là nỗi thương nhớ khôn nguôi. + Đó là lòng biết ơn sâu sắc của tác giả trước sự hi sinh của 60 ngôi sao nhỏ. II LÀM VĂN 7,0 1 Viết một đoạn văn về trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với đất nước trong bối 2,0 cảnh hiện nay. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn 0,25 Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo một cách hoặc kết hợp các cách: diễn dịch, quy nạp, móc xích, tổng-phân- hợp; đảm bảo yêu cầu cấu trúc đoạn văn. Xác định đúng vấn đề nghị luận 0,25 Nhận thức và hành động của thế hệ trẻ đối với đất nước trong bối cảnh hiện nay. Triển khai vấn đề nghị luận 1,0 Thí sinh có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp, triển khai vấn đề theo nhiều cách để làm rõ trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với đất nước trong bối cảnh hiện nay, đảm bỏ hợp lý, thuyết phục, phù hợp với đạo đức, pháp luật. Có thể theo hướng: -Trách nhiệm là đối với đất nước trong bối cảnh hiện nay là công việc hay nghĩa vụ của mỗi người phải thực hiện hoặc hoàn thành đối với đất nước. - Trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với đất nước trong bối cảnh hiện nay là trách nhiệm giữ gìn nền độc lập, thực hiện nghĩa vụ quân sự, là trách nhiệm học tập, rèn luyện, lao động sản xuất - Khi thế hệ trẻ có trách nhiệm với đất nước, đất nước sẽ vượt qua khó khăn về dịch bệnh, biến đổi khí hậu ; đất nước sẽ phát triển bền vững; nhân dân có cuộc sống ấm no; xã hội công bằng, văn minh - Câu chuyện ba anh em Nguyễn Trương Minh Thông, Nguyễn Trương Minh Phát và Nguyễn Trương Minh Thiện ngụ ấp 3, xã Tam An, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai viết đơn tình nguyện nhập ngũ. May mắn thay, cả 3 được sắp xếp nhập ngũ cùng đơn vị, đó là Lữ đoàn 96 (Bộ Tư lệnh Pháo binh). Câu chuyện đó là một câu chuyện truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ. Trang 3
- - Để hoàn thành trách nhiệm với đất nước trong bối cảnh hiện nay, thế hệ trẻ cần trang bị kiến thức, kĩ năng; tích cực tham gia vào các hoạt động thiện nguyện vì cộng đồng; biết đặt lợi ích chung của cộng đồng lên trên lợi ích cá nhân... - Tuy nhiên hiện nay có nhiều bạn trẻ chưa thực hiệm tốt trách nhiệm của bản thân với đất nước, họ mải mê với những đam mê cá nhân - Mỗi chúng ta cần có nhận thức đúng đắn về trách nhiệm của bản thân với đất nước đó là giữ gìn và bảo vệ tổ quốc, luôn biết yêu thương và giúp đỡ những người xung quanh, Chính tả, từ ngữ, ngữ pháp 0,25 Đảm bảo chuẩn chính tả, từ ngữ, ngữ pháp tiếng Việt. Sáng tạo 0,25 Thể hiện suy nghĩ sâu sắc, có ý tưởng riêng phù hợp với vấn đề nghị luận; có cách lập luận, diễn đạt mới mẻ. 2 Phân tích nhân vật người vợ nhặt trong đoạn trích sau; từ đó nhận xét tư 5,0 tưởng nhân đạo mà nhà văn gửi gắm trong tác phẩm. a.Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận: 0,25 Mở bài nêu được vấn đề; thân bài triển khai được vấn đề; kết bài khái quát được vấn đề. b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: 0,5 Phân tích nhân vật người vợ nhặt trong đoạn trích sau; từ đó nhận xét tư tưởng nhân đạo mà nhà văn gửi gắm trong tác phẩm Vợ nhặt. c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách; cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; cần đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau: * Giới thiệu khái quát về tác giả Kim Lân, tác phẩm Vợ nhặt và vấn đề nghị luận 0,5 Kim Lân (1920-2007) là một nhà văn chuyên viết truyện ngắn. Kim Lân thường hướng ngòi bút của mình về đề tài nông thôn với những thú vui đồng ruộng. Với tác phẩm Vợ nhặt (1954) nhà văn đã làm hiện lên trước mắt người đọc một bức tranh sinh động về hiện thực thê thảm ấy. Dù đang bị cái đói, cái chết rình rập nhưng họ vẫn cưu mang, đùm bọc, yêu thương và san sẻ, cùng hướng về sự sống, về hạnh phúc và tương lai. Trong truyện ngắn Vợ nhặt, Kim Lân đã rất thành công khi xây dựng hình tượng nhân vật người vợ nhặt, một người đàn bà liều lĩnh nhưng có vẻ đẹp khuất lấp. Hình ảnh người vợ nhặt được nhà văn miêu tả qua đoạn trích từ câu văn Người đàn bà lẳng lặng đi vào trong bếp đến câu văn Ừ sao nhà biết. Qua đây, người đọc cảm nhận được tư tưởng nhân đạo mà nhà văn gửi gắm trong tác phẩm. * Phân tích nhân vật người vợ nhặt trong đoạn trích. - Người đàn bà không rõ lai lịch, quê quán. Người đàn bà xuất hiện ở dốc tỉnh để 2,0 nhặt hạt rơi, hạt vãi hoặc ai thuê gì thì làm. Khi Kim Lân không đặt tên cho nhân vật mà gọi là thị. Qua đây chúng thấy được sự cảm thương của nhà văn với những người đàn bà vô danh trong xã hội. Thị là một nạn nhân của cái đói, thị cố bám víu lấy Tràng mà theo không Tràng sau hai lần quen biết với câu chuyện tầm phơ tầm phào. Thị theo Tràng về xóm ngụ cư vào một buổi chiều. Xóm ngụ cư tối sầm lại vì đói khát . Điều đó khiến mọi người ngạc nhiên. Thị xuất hiện ở xóm ngụ cư- không gian cái đói, cái chết đang hiện hữu. Thị xuất hiện vào lúc buổi chiều- khoảnh khắc kết thúc một ngày tàn nhưng lại mở ra một tương lai mới. Trang 4
- - Thị được miêu tả trong bối cảnh không gian và thời gian đặc biệt đó là vào buổi sáng hôm sau tại nhà của Tràng. Thị được miêu tả qua cảm nhận của Tràng. Thị hôm nay trông khác lắm. Khi nghe thấy mẹ chồng giục đi dọn cơm, thị vâng rất khẽ và lẳng lặng đi vào trong bếp. Dáng vẻ điệu bộ ấy là dáng vẻ điệu bộ của một người đàn bà hiền hậu đúng mực. Bằng lời độc thoại nội tâm, nhà văn miêu tả tâm trạng ngạc nhiên của Tràng trước sự thay đổi của người vợ nhặt. Bằng tình yêu thương, Tràng đã nhìn thấy sự thay đổi của vợ. Tràng tự hỏi không biết có phải vì mới về làm dâu mà thị tu chí làm ăn không? Bằng tấm lòng nhân đạo, nhà văn đã phát hiện vẻ đẹp tâm hồn của người vợ nhặt qua dáng vẻ cử chỉ điệu bộ và qua sự hiền hậu của thị. - Nỗi khổ của thị sau khi theo Tràng về làm vợ: + Bỏ qua cả sĩ diện, thị chấp nhận theo Tràng về làm vợ, thị chịu sự đàm tiếu của mọi người là cái nợ đời. Vậy nhưng cực chẳng đã, thị vẫn phải đối mặt với cái đói. Thị được miêu tả trong bữa cơm ngày đói thật thảm hại. Giữa cái mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rối, và một đĩa muối ăn với cháo, nhưng cả nhà đều ăn rất ngon lành.. . Niêu cháo lõng bõng, mỗi người được có lưng lưng hai bát đã hết nhẵn. Với nghệ thuật tả cảnh chi tiết, Kim Lân giúp người đọc hình dung sự thảm hại của bữa cơm, sự thảm hại của thị và mẹ con bà cụ Tứ. Hình ảnh cái mẹt rách phản ánh điều khó khăn của gia đình thị. Hình ảnh lùm rau chuối thái rối, bình thường rau chuối là thức ăn của loài vật, trong cái đói nó trở thức ăn của thị và mẹ con bà cụ Tứ. Thị thật đáng thương vì đây là bữa cơm đón nàng dâu mới. Hình ảnh niêu cháo lõng bõng, niêu cháo loãng phản ảnh rõ điều kiện khó khăn của gia đình mới của thị, mọi người ăn cháo loãng để cầm hơi. Chứng kiến bữa cơm ngày đói thảm hại, người đọc cảm thương cho thị. + So sánh: Bữa cơm thảm hại của người vợ nhặt khiến ta liên tưởng đến bữa cơm của gia đình mụ hàng chài với sương rồng luộc chấm muối ( Chiếc thuyền ngoài xa- Nguyễn Minh Châu). Nhà văn thể hiện thái độ cảm thương. Kim Lân cảm thương cho hoàn cảnh của thị, ông lên án Pháp, Nhật gây ra nạn đói. + Chưa dừng ở đó, nhà văn tiếp tục miêu tả sự thiệt thòi của thị khi theo Tràng về làm vợ trong bối cảnh cái đói. Để bữa cơm thêm phần thịnh soạn, bà cụ Tứ vui vẻ hồ hởi khi bưng nồi chè khoán cho các con ăn Bà lật đật chạy xuống bếp, lễ mễ bưng ra một cái nồi khói bốc lên nghi ngút. Bà lão đặt cái nồi xuống bên cạnh mẹt cơm, cầm cái môi vừa khuấy khuấy vừa cười: -Chè đây. - Bà lão múc ra một bát - Chè khoán đây, ngon đáo để cơ. Những tưởng người mẹ chồng có món chè khoán ngon đáo để. Nhưng khi thị bưng bát chè khoán từ tay bà cụ Tứ, thị phát hiện ngay đây không phải là chè khoán mà là cám, lập tức hai con mắt thị tối lại. Nhà văn rất tinh tế khi miêu tả ánh mắt tối lại của thị. Thị hiểu ngay món ăn đó được nấu từ cám lợn. Thị hiểu sự nghèo khó của nhà chồng và những khó khăn của bản thân khi chấp nhận ở lại làm dâu con bà cụ Tứ. Thị thật đáng thương. + So sánh: Nếu cô Mị không phải đối mặt với cái đói thì thị lại phải đối mặt với cái đói, thậm chí cả cái chết đang cận kề. Thị thật đáng thương! Thị hiểu dù là cám nhưng khối nhà còn cả có mà ăn nên thị điềm nhiên và vào miệng. Kể từ giây phút đó Bữa cơm từ đấy không ai nói câu gì, họ cắm đầu ăn cho xong lần, họ tránh nhìn mặt nhau. Một nỗi tủi hờn len vào tâm trí mọi người. - Tâm trạng của người vợ nhặt: + Thị đang sống trong nỗi tủi hờn vì ăn món chè khoán của mẹ thì bỗng nhiên xuất hiện của âm thanh tiếng trống thúc thuế. Tiếng trống thúc thuế vang lên từ ngoài đình làng dồn dập, vội vã ngoài đình bỗng dội lên một hồi trống, dồn dập, vội vã. Âm thanh tiếng trống thúc thuế vang lên khiến đàn quạ cũng hốt hoảng mà bay vù lên, lượn thành từng đám bay vần trên nền trời như những đám mây đen. Có lẽ lúc này, tiếng trống thúc thuế là âm thanh đáng sợ nhất đối với những con người đói. Và thị đang phải đối mặt với cái đói, cái chết cận kề. Trang 5
- + Nghe tiếng trống thúc thuế, người vợ nhặt là ngạc nhiên về thứ âm thanh dồn dập, vội vã. Người vợ nhặt hỏi bà cụ Tứ Trống gì đấy, u nhỉ? Nghe bà cụ Tứ giải thích về tiếng trống người con dâu có vẻ lạ lắm. Thị ngạc nhiên vì ở đây vẫn phải đóng thuế. Thị được biết ở trên mạn Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu đóng thuế nữa đâu. Người ta còn phá cả kho thóc của Nhật, chia cho người đói nữa đấy. Người vợ nhặt đã kể về phong trào phá kho thóc Nhật mà mình từng được chứng kiến. Chính câu chuyện của người vợ nhặt đã mang đến những chuyển biến rõ rệt trong suy nghĩ và thôi thúc hành động của nhân vật Tràng trong tương lai. - Câu chuyện của thị với Tràng về Việt Minh: Thị đã giúp Tràng hiểu về Việt Minh. Nghe tiếng trống thúc thuế và câu chuyện của người vợ, trong suy nghĩ của Tràng hiện lên hình ảnh đám người đói đi trên đê Sộp và lá cờ đỏ bay phấp phới. Bất giác Tràng hỏi vợ Việt Minh phải không?thị trả lời Ừ, sao nhà biết. Bằng nghệ thuật đối thoại với ngôn ngữ bình dân, Kim Lân đã tài hiện lại câu chuyện của thị và Tràng về Việt Minh. Câu chuyện của người vợ nhặt cho Tràng thấy cách mạng đã về, đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành lấy sự sống, sự tự do. Lúc này, Tràng được nghe về Việt Minh. Tràng lờ mờ hiểu được Việt Minh là những người đi phá kho thóc của Nhật để chia cho người đói. Tràng đã hiểu được hành động tích cực của Việt Minh qua câu chuyện của vợ. Nhà văn Kim Lân đã rất khéo léo tái hiện thực trạng xã hội đời sống lúc bấy giờ Thị đã giúp Tràng đã nhận thức được hiện trạng xã hội đang có dấu hiệu thay đổi theo chiều hướng tích cực dù Tràng còn rất mơ hồ về Việt Minh, về cách mạng. - Vẻ đẹp khuất lấp của người vợ nhặt: Thị là người phụ nữ tinh tế, hiền hậu và đảm đang. Thị thể hiện trách nhiệm của cô con dâu, một người vợ hiền: quét dọn nhà cửa, nấu cơm cũng với mẹ chồng. Thị đã góp tay vào sắp sếp hạnh phúc gia đình. Ứng xử của thị khi ăn bát chè khoán “đắng chát và nghẹn bứ” “thản nhiên và vào miệng” khiến người đọc vừa thương vừa trân trọng thị. Thị khao khát sự sống và hạnh phúc gia đình, thị chấp nhận cả cái nghèo của Tràng. * Nhận xét nghệ thuật miêu tả nhân vật người vợ nhặt trong đoạn trích: - Kim Lân xây dựng một tình huống truyện độc đáo – tình huống Tràng nhặt vợ vừa vui vừa buồn. Tình huống truyện đã thay đổi cuộc đời của thị. - Kim Lân khai thác hiệu quả yếu tố thời gian và không gian nghệ thuật. Thời gian, không gian chính là hình thức để thị cảm nhận cuộc sống và bản thân. - Nghệ thuật đối thoại với những ngôn ngữ bình dân phần nào thể hiện được sự thay đổi của thị. - Nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật bằng lời độc thoại nội tâm cũng góp phần khắc họa rõ vẻ đẹp tâm hồn của thị. -> Nguyễn Minh Châu đã nói Nhà văn phải là người đi tìm những hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn của con người. Với những yếu tố nghệ thuật đặc sắc đó, Kim Lân đã tìm được hạt ngọc ẩn dấu trong tâm hồn người vợ nhặt. 0,5 *Nhận xét tư tưởng nhân đạo của nhà văn Kim Lân trong tác phẩm: 0,5 - Nhà văn đồng cảm với nỗi cơ cực của người nông dân trong nạn đói. - Ông lên án tội ác của Pháp, Nhật đã gây ra nạn đói đó. - Đồng thời nhà văn thể hiện sự trân trọng của mình trước vẻ đẹp tâm hồn của những người nông dân trong cái đói quay đói quắt. - Với tư tưởng nhân đạo, nhà văn hướng họ đến với cách mạng. Trang 6
- d.Chính tả, ngữ pháp 0,25 Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt. e.Sáng tạo 0,5 Thể hiện suy nghĩ sâu sắc; có ý tưởng riêng về vấn đề nghị luận; có cách lập luận, diễn đạt mới mẻ. TỔNG ĐIỂM 10 ----------------Hết------------------ Trang 7

