Đề thi thử Tốt nghiệp Trung học Phổ thông môn Ngữ Văn Lớp 12 - Đề số 10 - Năm học 2022-2023 (Có đáp án)
Bạn đang xem tài liệu "Đề thi thử Tốt nghiệp Trung học Phổ thông môn Ngữ Văn Lớp 12 - Đề số 10 - Năm học 2022-2023 (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
de_thi_thu_tot_nghiep_trung_hoc_pho_thong_mon_ngu_van_lop_12.pdf
Nội dung tài liệu: Đề thi thử Tốt nghiệp Trung học Phổ thông môn Ngữ Văn Lớp 12 - Đề số 10 - Năm học 2022-2023 (Có đáp án)
- ĐỀ MINH HỌA CHUẨN ĐỀ THI THỬ TN THPT NĂM 2023 CẤU TRÚC 2023 Môn thi: Ngữ Văn Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề ĐỀ SỐ 10 Họ, tên thí sinh: Số báo danh: I. ĐỌC - HIỂU (3,0 điểm) Đọc văn bản: 1.Tuổi thanh xuân bầu máu nóng dạt dào 3.Tuổi thanh xuân tim cháy bỏng yêu đương Luôn ao ước khám phá miền mới lạ Cùng bạn trẻ xây “ thiên đường hạnh phúc” Con đường đi dẫu gập ghềnh sỏi đá Nhưng tấm lòng cũng nồng nàn yêu nước Nhiều gian nan vất vả chẳng hề chi! Sắn sàng đi xa khi Tổ quốc cần 2.Tuổi thanh xuân nhiều khát vọng say mê 4.Tuổi thanh xuân thật đẹp vô ngần Muốn chiếm lĩnh những chân trời khoa học Đem sức trẻ dấn thân vào cuộc sống Luyện ý chí và trau dồi kiến thức Giàu mơ ước, đầy niềm tin hy vọng Trưởng thành qua bao năm tháng học đường Trước cuộc đời bao thử thách gian nan! (Đẹp tuổi thanh xuân,Phan Hoàng,https:baithohay.com) Và thực hiện yêu cầu: Câu 1:Xác định thể thơ của văn bản? . Câu 2: Theo tác giả, trong hai khổ thơ đầu, tuổi thanh xuân có những mong muốn và ao ước gì? Câu 3: Nêu tác dụng của việc sử dụng phép điệp ngữ “ tuổi thanh xuân” trong bài thơ?. Câu 4: Anh chị rút ra được thông điệp gì khi đọc xong đoạn thơ? Tuổi thanh xuân tim cháy bỏng yêu đương Cùng bạn trẻ xây “ thiên đường hạnh phúc” Nhưng tấm lòng cũng nồng nàn yêu nước Sẵn sàng đi xa khi Tổ quốc cần. II. LÀM VĂN (7.0 điểm) Trang 1
- Câu 1 (2.0 điểm) Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa khát vọng sống cống hiến của thế hệ trẻ. Câu 2 (5.0 điểm) Trong bóng tối, Mị đứng im lặng,như không biết mình đang bị trói. Hơi rượu còn nồng nàn. Mị vẫn nghe thấy tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi, những đám chơi. "Em không yêu, quả pao rơi rồi. Em yêu người nào, em bắt pao nào!" Mị vùng bước đi. Nhưng tay chân đau không cựa được. Mị không nghe tiếng sáo nữa. Chỉ còn nghe tiếng chân ngựa đạp vào vách. Ngựa vẫn đứng yên, gãi chân, nhai cỏ. Mị thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa. Chó sủa xa xa. Chừng đã khuya. Lúc này là lúc trai đang đến bên vách làm hiệu, rủ người yêu dỡ vách ra rừng chơi. Mị nín khóc, Mị lại bồi hồi. Cả đêm ấy Mị phải trói đứng như thế. Lúc thì khắp người bị dây trói thít lại, đau nhức. Lúc lại nồng nàn tha thiết nhớ. Hơi rượu toả. Tiếng sáo. Tiếng chó sửa xa xa. Mỵ lúc mê, lúc tình. Cho tới khi trời tang tảng rồi không biết sáng từ bao giờ. Mỵ bàng hoàng tỉnh. Buổi sáng âm sâm trong cái nhà gỗ rộng. Vách bên cũng im ắng. Không nghe tiếng lửa réo trong lò nấu lợn. Không một tiếng động. Không biết bên buồng quanh đấy, các chị vợ anh, vợ chú của A Sử có còn ở nhà, không biết tất cả những người đàn bà khốn khổ sa vào nhà quan đã được đi chơi hay cũng đang phải trói như Mị. Mị không thể biết.Ðời người đàn bà lấy chồng nhà giàu ở Hồng Ngài, một đời người chỉ biết đi theo đuôi con ngựa của chồng. Mị chợt nhớ lại câu chuyện người ta vẫn kể: đời trước, ở nhà thống lý Pá Tra có người trói vợ trong nhà ba ngày rồi đi chơi, khi về nhìn đến thì vợ chết rồi. Mị sợ quá, Mị cựa quậy, xem mình còn sống hay chết. Cổ tay, đầu, bắp chân bị dây trói siết lại, đau đứt từng mảnh thịt. (Trích Vợ chồng A Phủ- Tô Hoài, Ngữ văn 12, tập hai, Nxb GD,2008, tr 8,9) Phân tích hình tượng nhân vật Mị trong đoạn trích trên. Từ đó, nhận xét cái nhìn về người nông dân của nhà văn Tô Hoài. Trang 2
- HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT Phần Câu Nội dung Điểm I ĐỌC HIỂU 3,0 1 - Thể thơ Tự do 0.75 2 - Theo tác giả, nhân vật “tôi”đã nhận được những điều từ đất nước 0.75 là: gương mặt, tiếng hát, sức vóc bàn tay, những bước đi dài, trái tim. 3 1.0 -Biện pháp tu từ điệp ngữ: Điệp từ “ tuổi thanh xuân ” được nhắc tới 4 lần -Hiệu quả : + Nhấn mạnh ý nghĩa của tuổi thanh xuân và chia sẻ niềm say mê, ý chí, khát vọng và tình yêu của thế hệ trẻ. + Tạo nhịp điệu tha thiết cho đoạn thơ. Đồng thời, thể hiện tình cảm yêu nước và tinh thần tự nguyện cống hiến của thế hệ trẻ. 4 - HS nói rõ quan điểm mà mình nhận thấy trong bốn câu và lí giải 0.5 theo cách hiểu của mình. Nội dung câu trả lời phải hợp lí, có sức thuyết phục. - Có thể là: +Thông điệp trong bốn câu thơ: + Hạnh phúc của tuổi trẻ là được cùng nhau xây dựng. + Sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu khi Tổ quốc gọi tên mình. LÀM VĂN 7,0 II 1 Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) bàn về ý nghĩa của khát vọng 2.0 cống hiến của thế hệ trẻ. a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn nghị luận, không có 0.25 chỗ xuống dòng Thí sinh viết một đoạn văn khoảng 200 chữ, có thể trình bày theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hay song hành. b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Khát vọng cống hiến của 0.25 thế hệ trẻ đối với đất nước. c. Triển khai vấn đề nghị luận 1.0 Trang 3
- Thí sinh lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách nhưng phải làm rõ vai trò của khát vọng cống hiến của thế hệ trẻ. Có thể triển khai theo hướng sau: - Khát vọng cống hiến là mong muốn được đem tài năng, trí tuệ, sức lực của bản thân để đóng góp vì lợi ích chung, hi sinh cái riêng để phục vụ mục đích tốt đẹp của cộng đồng và đất nước; là lẽ sống cao cả của thanh niên. - Vai trò của khát vọng cống hiến: +Khát vọng cống hiến là biểu hiện mang tính tích cực của tâm lý, tốt đẹp của con người. + Khát vọng sống cống hiến xuất phát từ những mong ước làm nên cuộc đời hạnh phúc, không chỉ cho bản thân người đó mà cho những người xung quanh. + Những con người có khát vọng cống hiến luôn lan tỏa những điều tốt đẹp hướng đến cộng đồng và ra sức phát triển đất nước để xây dựng đất nước vươn tầm thế giới. + Những người có khát vọng sống cống hiến có trái tim say mê, nhiệt tình trong công việc, sống hết mình và hơn ai hết luôn nỗ lực cố gắng không ngừng. +Khát vọng cống hiến mang đến cho con người sự lạc quan nhất định và hướng đến những điều tốt đẹp nhất cho nhân loại. - Bài học: + Về nhận thức: phải hiểu giá trị của khát vọng cống hiến trong cuộc sống; + Về hành động: tuổi trẻ phải biết sống đẹp, sống có ích, có ước mơ, lí tưởng d. Chính tả, dùng từ, đặt câu 0.25 Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ về ngữ nghĩa, từ loại, ngữ pháp tiếng Việt. e. Sáng tạo 0.25 Thí sinh có sáng tạo trên các phương diện hình thức, dùng từ, diễn đạt, những suy nghĩ, kiến giải sâu sắc, mới mẻ, độc đáo. 2 Phân tích hình tượng nhân vật Mị trong đoạn trích. Từ đó, nhận 5.0 xét cái nhìn về người nông dân của nhà văn Tô Hoài. a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận: có đủ các phần mở bài, thân 0.5 bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề. Trang 4
- b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Hình tượng nhân vật Mị 0.25 trong đoạn trích; nhận xét cái nhìn về người nông dân của nhà văn Tô Hoài. c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; đảm bảo các yêu cầu sau: C1.Giới thiệu khái quát về tác giả Tô Hoài, truyện ngắn “ Vợ 0.25 chồng A Phủ”, nhân vật Mị và đoạn trích: - Tô Hoài là một trong những gương mặt tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam đương đại. - “Vợ chồng A Phủ” – một tác phẩm gắn liền với tên tuổi nhà văn Tô Hoài trong hơn nửa thế kỉ qua. - Sức hấp dẫn của thiên truyện chủ yếu từ hai nhân vật được khắc họa khá thành công với những cá tính nghệ thuật đặc sắc. - Đặc biệt khi khắc họa nhân vật Mị, nhà văn bộc lộ năng lực khám phá chiều sâu nội tâm con người sâu sắc và tinh tế, đồng thời thể hiện cái nhìn mới mẻ về người nông dân. Cụ thể ở đoạn trích: “Trong bóng tối, Mị đứng im lặng [ ].Cổ tay, đầu, bắp chân bị dây trói siết lại, đau đứt từng mảnh thịt.” – Nêu vấn đề cần nghị luận: Hình tượng nhân vật Mị trong đoạn trích; nhận xét cái nhìn về người nông dân của nhà văn Tô Hoài. C.2. *Khái quát về tác phẩm, đoạn trích: 1.75 - Hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ, sơ lược cốt truyện. +Truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ ” được sáng tác năm 1952 và in trong tập "Truyện Tây Bắc " (1953). Đây là một tác phẩm có giá trị của văn xuôi Việt Nam hiện đại khi phản ánh chân thực và sinh động con đường của nhân dân miền núi cao Tây Bắc đi theo cách mạng. +Tác phẩm gồm hai phần : Phần đầu kể về cuộc sống tủi nhục của Mị và A Phủ ở Hồng Ngài, là nô lệ trong nhà thống lí Pá Tra. Kết thúc phần đầu là cảnh Mị cắt dây trói cứu A Phủ và cùng A Phủ trốn khỏi nhà Pá Tra. Phần sau kể Mị và A Phủ ở Phiềng Sa, họ thành vợ chồng, được cán bộ A Châu giác ngộ cách mạng. A Phủ trở thành đội trưởng du kích đánh Pháp bảo vệ làng. - Vị trí, nội dung đoạn trích: Trang 5
- 3.2.2.Phân tích vẻ đẹp nội dung, nghệ thuật về nhân vật Mị trong đoạn trích: a.Về nội dung: – Sơ lược về cảnh ngộ của Mị trước khi bị trói trong đêm tình mùa xuân: + Mị là một cô gái trẻ đẹp, yêu đời, chăm chỉ lao động, nhà nghèo và rất hiếu thảo; + Do món nợ truyền kiếp của cha mẹ, Mị phải làm dâu gạt nợ cho thống lí Pá Tra, sống cuộc đời trâu ngựa khổ đau; + Nhưng tận đáy sâu tâm hồn câm lặng ấy vẫn le lói tia lửa sống, chỉ chờ dịp là bùng lên mạnh mẽ. Dịp ấy đã đến trong đêm tình mùa xuân phơi phới mà tiếng sáo gọi bạn đầu làng đã làm xao động lòng người phụ nữ trẻ; + Khi mùa xuân về, như quy luật vạn vật hồi sinh, sức trẻ trong Mị bừng trỗi dậy. Mị khêu đèn lên cho bừng sáng căn buồng của mình, lén lấy hũ rượu uống ực từng bát. Mị bổi hổi nghe tiếng sáo. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi. +Trông thấy Mị, A Sử bước lại, nắm Mị, lấy thắt lưng trói hai tay Mị. Nó xách cả một thúng sợi đay ra trói Mị đứng vào cột nhà. Tóc Mị xõa xuống, A Sử quấn luôn tóc lên cột làm cho Mị không cúi, không nghiêng đầu được nữa – Diễn tả tâm trạng và hành động của Mị trong đêm tối khi bị A Sử trói, không cho đi chơi xuân: + “Trong bóng tối, Mị đứng im lặng, như không biết mình đang bị trói. Hơi rượi còn nồng nàn, Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi, những đám chơi...”: Mị như quên hẳn mình đang bị trói, quên những đau đớn về thể xác, Mị vẫn thả hồn theo những cuộc chơi, những tiếng sáo gọi bạn tình tha thiết, tiếng sáo không chỉ vang vọng trong không gian mà còn tồn tại trong chính tâm hồn Mị. Ngay cả khi cô bị trói đứng thì âm thanh của tiếng sáo như ma lực làm bùng cháy trong Mị niềm khao khát yêu, khao khát sống. +“Mị vùng bước đi. Nhưng tay chân đau không cựa được”: Tiếng sáo của những đôi lứa yêu nhau và của cả những người lỡ duyên đã có sự tác động lớn lao tới tâm hồn Mị. Nó thôi thúc Mị, khiến Mị vùng bước đi, quên thực tại đau khổ trước mắt. Chi tiết Mị “vùng bước đi” đã minh chứng được sức sống mãnh liệt trong tâm hồn Mị. Tâm hồn ấy đang đến với tự do, đang tràn trề nỗi yêu đương của tuổi trẻ. Nhưng cũng chính lúc này, khi “vùng bước đi” theo tiếng sáo, sợi dây trói thắt vào “tay chân đau không cựa được”, Mị mới trở lại Trang 6
- với hiện thực phũ phàng, nghiệt ngã. Lòng Mị đau đớn, thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa. +Tiếng sáo tượng trưng cho tình yêu, hạnh phúc đột ngột biến mất, “Mị không nghe thấy tiếng sáo nữa”. “Chỉ còn nghe tiếng chân ngựa”, tiếng chân ngựa đạp vào vách, nhai cỏ, gãi chân là những âm thanh của thực tại, đưa Mị trở lại với sự liên tưởng đau đớn bởi kiếp sống “không bằng con ngựa” của mình. Sau bao nhiêu năm tháng, Mị đã tỉnh táo nhận ra thân phận trâu ngựa của mình, đã thổn thức khi thấy mình “không bằng con ngựa” nhà thống lí. Hình ảnh so sánh con người với con vật cứ day dứt, trở đi trở lại trong tác phẩm. Khi về làm vợ A Sử chắc chắn nhiều lần Mị đã bị hắn đánh đập, hành hạ. Nhưng có lẽ đây là lần đầu tiên Mị thổn thức nghĩ không bằng con ngựa. Bởi những lần trước Mị nghĩ mình cũng là con trâu, con ngựa thì đó là ý nghĩ của con người cam chịu, quen khổ. Còn giờ đây, nó là cái thổn thức của tâm hồn bị vùi dập. +Dù đã trở lại với thực tại tàn nhẫn, suốt đêm mùa xuân ấy, quá khứ vẫn “nồng nàn tha thiết” trong nỗi nhớ của Mị với “hơi rượu toả, tiếng sáo dập dờn, tiếng chó sủa xa xa...” Đêm khuya là lúc trai đến bên vách làm hiệu rủ người yêu dỡ vách ra rừng chơi. Mị nín khóc, Mị lại bồi hồi. +Mị phải sống trong sự giằng xé giữa khao khát cháy bỏng, hiện tại tàn nhẫn. Tâm trạng Mị đồng hiện giữa quá khứ, hiện tại, chập chờn giữa tỉnh và mê. Trong đêm tình mùa xuân này, Mị đã thức tỉnh để nhận ra những bất hạnh, những cay đắng trong thân phận trâu ngựa của mình. Khi nhận ra thì cảm nhận về sự khổ ải sẽ càng thấm thìa. Từ nay, có lẽ Mị sẽ không thể yên ổn với những suy nghĩ buông xuôi, cam chịu của mình. Khát vọng tình yêu, khát vọng hạnh phúc, khát vọng tuổi trẻ đã hồi sinh nhưng cũng đã bị vùi dập. Và nó đang chờ ngọn gió để thổi bùng lên. + Mị bàng hoàng tỉnh... Không một tiếng động. Mị thương những người đàn bà khốn khổ sa vào nhà quan. Cô Mị của ngày xưa - một người sống như đang chết, sống trong cảm giác chờ đợi sự giải thoát từ cái chết, giờ đây lại biết xót thương cho người khác, biết sợ hãi trước cái chết. + Mị thấy sợ khi nhớ tới từng có người đàn bà cũng bị đánh, bị trói đã chết đứng chính căn buồng này. “Mị sợ quá, Mị cựa quậy” như để chứng minh mình vẫn còn sống. Mị sợ chết vì ám ảnh bởi bóng ma của thần quyền. Mị sợ chết cũng chứng tỏ Mị khao khát sống. Chết lúc này là chết oan uổng. Chính tiếng sáo, tiếng gọi tình yêu đã giúp Mị nhận ra sự sống đáng quý: phải sống để được yêu, được đón nhận hạnh phúc tuổi trẻ Một khi biết sợ chết thì người ta càng thêm yêu cuộc sống. Mị cũng vậy. Trang 7
- +Đánh giá: Như vậy rõ ràng là cường quyền và thần quyền tàn bạo không thể dập tắt nổi khát vọng hạnh phúc, tình yêu nơi Mị. Cuộc nổi loạn tuy không thành công nhưng nó đã cho người đọc thấy sức sống mãnh liệt tiềm tàng trong những người nông dân tưởng chừng như nhỏ bé, khốn khổ nhất. *Đặc sắc nghệ thuật. 0.5 -Bút pháp miêu tả tâm lí sắc sảo, tinh tế -Cách dẫn dắt tình tiết khéo léo, tự nhiên -Giọng trần thuật của tác giả hòa vào những độc thoại nội tâm của nhân vật tạo nên ngôn ngữ nửa trực tiếp đặc sắc. -Ngôn ngữ kể chuyện tinh tế, mang đậm màu sắc miền núi. C.3.Nhận xét cái nhìn về người nông dân của nhà văn Tô Hoài. 0.75 - Nhà văn nhìn người nông dân Tây Bắc dưới ách thống trị của bọn chúa đất miền núi đã bị chà đạp tàn nhẫn từ thể xác đến tinh thần. Nhưng trong chiều sâu tâm hồn của họ vẫn có sức sống tiềm tàng mãnh liệt của khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc, tình yêu và khát vọng tự do. Tuy sống trong thân phận trâu ngựa, bị đoạ đày giữa địa ngục trần gian nhưng họ không bao giờ chịu đầu hàng số phận, mà vẫn tìm cách vượt ngục tinh thần, tâm hồn được hồi sinh. Đó còn là cái nhìn lạc quan, tin tưởng vào sức mạnh của người nông dân trong tư tưởng tiến bộ của nhà văn cách mạng Tô Hoài. - Các nhìn mới mẻ, tin yêu về người nông dân cho thấy tài năng quan sát, miêu tả thiên nhiên, phong tục tập quán, đặc biệt khả năng diễn tả quá trình phát triển tính cách nhân vật hợp lí, tự nhiên, phong phú, phức tạp mà sâu sắc, phù hợp với quy luật phép biện chứng tâm hồn của nhà văn-người có duyên nợ với mảnh đất và con người Tây Bắc. C4. Đánh giá: 0.5 - Đoạn văn miêu tả tâm trạng nhân vật Mị trong đêm xuân khi bị trói thấm đẫm tính nhân văn, góp phần tô đậm tính cách nhân vật Mị. -Thể hiện một cách chân thật và cảm động giá trị hiện thực và tinh thần nhân đạo của truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ”. d. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩa sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận; 0.25 sáng tạo trong diễn đạt e.Đảm bảo quy tắc: chính tả, dùng từ, đặt câu 0.25 TỔNG ĐIỂM 10 ----------------Hết------------------ Trang 8

