Đề thi thử Tốt nghiệp Trung học Phổ thông môn Ngữ Văn Lớp 12 - Đề số 2 - Năm học 2022-2023 (Có đáp án)

pdf 8 trang cattuong 17/11/2025 2450
Bạn đang xem tài liệu "Đề thi thử Tốt nghiệp Trung học Phổ thông môn Ngữ Văn Lớp 12 - Đề số 2 - Năm học 2022-2023 (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfde_thi_thu_tot_nghiep_trung_hoc_pho_thong_mon_ngu_van_lop_12.pdf

Nội dung tài liệu: Đề thi thử Tốt nghiệp Trung học Phổ thông môn Ngữ Văn Lớp 12 - Đề số 2 - Năm học 2022-2023 (Có đáp án)

  1. ĐỀ MINH HỌA CHUẨN ĐỀ THI THỬ TN THPT NĂM 2023 CẤU TRÚC B GD 2023 Môn thi: Ngữ Văn Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề ĐỀ SỐ 02 Họ, tên thí sinh: Số báo danh: I.ĐỌC HIỂU(3,0 điểm) Đọc đoạn trích: với những thằng con trai mười tám tuổi đất nước là nhịp tim có thể khác thường là một làn mây mỏng đến bâng khuâng là mùi mồ hôi thật thà của lính đôi khi là một giọng nữ cao nghe từ Hà Nội hay một bữa cơm rau rừng chúng tôi không muốn chết vì hư danh không thể chết vì tiền bạc chúng tôi lạ xa với những tin tưởng điên cuồng những liều thân vô ích đất nước đẹp mênh mang đất nước thấm tự nhiên đến tận cùng máu thịt chỉ riêng cho Người, chúng tôi dám chết (Trích “Thử nói về hạnh phúc”, Thanh Thảo) Câu 1.(Nhận biết). Trong đoạn thơ, chúng tôi dám chết cho đối tượng nào? (0.5 điểm). Câu 2.(Thông hiểu). Theo đoạn trích, đất nước với những thằng con trai mười tám tuổi là gì? (0.5 điểm). Câu 3.(Vận dụng). Việc không viết hoa chữ đầu dòng thơ có tác dụng gì? (0.5 điểm). Câu 4.(Vận dụng). Đất nước với anh/chị là gì? (0.5 điểm). II. LÀM VĂN(7,0 điểm) Câu 1.(2,0 điểm) Viết một đoạn văn ngắn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ của anh (chị) về lòng yêu nước của mỗi người. Câu 2.(5,0 điểm) Trong Vợ chồng A Phủ, Tô Hoài viết: “Bây giờ Mị cũng không nói. Mị đến góc nhà, lấy ống mỡ, xắn một miếng bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng.Trong đầu Mị đang rập rờn tiếng sáo. Mị muốn đi chơi. Mị cũng sắp đi chơi. Mị quấn lại tóc, Mị với tay lấy cái váy hoa vắt phía trong vách. A Sử đang sắp bước ra, bỗng quay lại, lấy làm lạ. Nó nhìn quanh, thấy Mị rút thêm cái áo. A Sử hỏi: Trang 1
  2. - Mày muốn đi chơi à? Mị không nói. A Sử cũng không thèm hỏi thêm. A Sử bước lại, nắm Mị, lấy thắt lưng trói tay hai Mị. Nó xách cả một thúng sợi đay ra trói đứng Mị vào cột nhà. Tóc Mị xõa xuống. A Sử quấn luôn tóc lên cột, làm cho Mị không cúi, không nghiêng được đầu nữa. Trói xong vợ, A Sử thắt nốt cái thắt lưng xanh ra ngoài áo rồi A Sử tắt đèn, đi ra, khép cửa buồng lại. Trong bóng tối, Mị đứng im lặng, như không biết mình đang bị trói. Hơi rượu còn nồng nàn, Mị vẫn nghe thấy tiếng sáo đưa Mị theo những cuộc chơi, những đám chơi. “Em không yêu, quả pao rơi rồi. Em yêu người nào, em bắt pao nào ”. Mị vùng bước đi. Nhưng tay chân đau không cựa được. Mị không nghe tiếng sáo nữa. Chỉ còn nghe tiếng chân ngựa đạp vách. Ngựa vẫn đứng yên, gãi chân, nhai cỏ. Mị thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa”. Chó sủa xa xa. Chừng đã khuya. Lúc này là lúc trai đang đến bên vách làm hiệu, rủ người yêu dỡ vách ra rừng chơi. Mị nín khóc, Mị lại bồi hồi. Cả đêm ấy Mị phải trói đứng như thế. Lúc thì khắp người bị dây trói thít lại, đau nhức. Lúc lại nồng nàn tha thiết nhớ. Hơi rượu toả. Tiếng sáo. Tiếng chó sửa xa xa. Mỵ lúc mê, lúc tình. Cho tới khi trời tang tảng rồi không biết sáng từ bao giờ. Mị bàng hoàng tỉnh. Buổi sáng âm sâm trong cái nhà gỗ rộng. Vách bên cũng im ắng. Không nghe tiếng lửa réo trong lò nấu lợn. Không một tiếng động. Không biết bên buồng quanh đấy, các chị vợ anh, vợ chú của A Sử có còn ở nhà, không biết tất cả những người đàn bà khốn khổ sa vào nhà quan đã được đi chơi hay cũng đang phải trói như Mị. Mị không thể biết.Ðời người đàn bà lấy chồng nhà giàu ở Hồng Ngài, một đời người chỉ biết đi theo đuôi con ngựa của chồng. Mị chợt nhớ lại câu chuyện người ta vẫn kể: đời trước, ở nhà thống lý Pá Tra có người trói vợ trong nhà ba ngày rồi đi chơi, khi về nhìn đến thì vợ chết rồi. Mị sợ quá, Mị cựa quậy, xem mình còn sống hay chết. Cổ tay, đầu, bắp chân bị dây trói siết lại, đau đứt từng mảnh thịt. (Trích “Vợ chồng A Phủ” - Tô Hoài, SGK Ngữ văn 12 - Tập hai, NXB GD) Phân tích nhân vật Mị trong đoạn trích trên. Từ đó, nhận xét nghệ thuật khắc họa nội tâm nhân vật của Tô Hoài. -----------HẾT------------ Trang 2
  3. HƯỚNG DẪN CHẤM, ĐÁP ÁN Phần Câu Nội dung Điểm I ĐỌC-HIỂU 3,0 1 Câu 1. Trong đoạn thơ, chúng tôi dám chết cho đối tượng nào? 0,5 Trong đoạn thơ, chúng tôi dám chết cho “Người” – “đất nước”. Câu 2. Theo đoạn trích, đất nước với những thằng con trai mười tám tuổi là gì? Theo đoạn trích, đất nước với những thằng con trai mười tám tuổi là: “nhịp tim có 2 thể khác thường”, “làn mây mỏng đến bâng khuâng”, “mùi mồ hôi thật thà của lính”, 0,5 “giọng nữ cao nghe từ Hà Nội”, “bữa cơm rau rừng”. Câu 3. Việc không viết hoa chữ đầu dòng thơ có tác dụng gì? 3 Việc không viết hoa chữ đầu dòng thơ có tác dụng: câu sau gối nối câu trước, tạo 1,0 dòng chảy tự sự, cảm xúc tự nhiên liền mạch. 4 Câu 4. Đất nước với anh/chị là gì? 1,0 - Nêu quan niệm cá nhân: Đất nước với tôi là tất cả những gì gần gũi hàng ngày. - Phân tích, lí giải: Đất nước tưởng như thật xa xôi, vĩ đại, vô hình nhưng thực ra lại là tất cả những gì thân thương gần gũi nhất. Đó là cha mẹ, bạn bè, nơi ta sinh ra, mảnh đất ta sống. Nghĩ thế, ta mới biết đủ yêu thương, gắn bó và định hình trách nhiệm máu thịt trước non sông. II LÀM VĂN 7 đ 1 Câu 1: Nghị luận xã hội: 2 đ Viết một đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ về lòng yêu nước của mỗi người. a.Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn 0.25 b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: suy nghĩ về lòng yêu nước của mỗingười 0.25 c. Triển khai vấn đề cần nghị luận: 1.0 1: Giải thích: Lòng yêu nước là tình cảm yêu quí, gắn bó, tự bào về quê hương, đất nước và tinh thần sẵn sàng đem hết tài năng, trí tuệ của mình phục vụ lợi ích của đất nước. 2. Bàn luận: Biểu hiện: - Lòng yêu nước trong mỗi người: + Lòng yêu nước bắt nguồn từ những điều rất đơn giản nhưng giàu ý nghĩa: đó là tình yêu thương đối với ông bà, cha mẹ, luôn luôn hướng về cội nguồn những lúc đi xa. + Hay đơn giản chỉ là dõi theo, âm thầm cổ vũ, ủng hộ cách mạng, kháng chiến như ông Hai trong truyện ngắn Làng; hàng triệu trái tim người Việt Nam cùng hướng về chủ quyền biển đảo khi Trung Quốc có những hành động xâm chiếm ->Đó đều là những biểu hiện của một trái tim nồng nàn yêu nước. - Khi ĐN có chiến tranh: +Sẵn sàng hi sinh xương máu để bảo vệ nền độc lập của dân tộc Dẫn chứng: trong lịch sử 3 lần kháng chiến chống quân Mông – Nguyên, Thanh, Minh, , kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ, - Khi đất nước hòa bình: cống hiến lặng lẽ và âm thầm trong lao động để xây dựng, phát triển đất nước. + Khi mới giành được độc lập, lòng yêu nước biểu hiện thành tinh thần xây dựng, kiến thiết đất nước buổi đầu. + Trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay thì đó là sự vươn tầm thế giới khẳng định vị thế Việt Nam trên thế giới trên mọi phương diện: người nông dân đưa lúa gạo đi xuất khẩu, anh chiến sĩ hải đảo giữ vững chủ quyền biển đảo, là doanh nhân đưa thương hiệu Việt tới bạn bè năm châu. DC: Doanh nhân Phạm Nhật Vượng, đội tuyển thể thao giành huy chương , các học sinh đạt giải cao trong các kì thi quốc tế, Tại sao chúng ta cần phải có lòng yêu nước? Trang 3
  4. - Bởi vì đất nước là quê hương, là nguồn cội thiêng liêng nhất của mỗi con người,là nơi chúng ta lớn lên, cũng là chốn quay về. - Lòng yêu nước tạo nên sức mạnh đoàn kết dân tộc, là yếu tố quyết định chiến thắng, giúp chúng ta đánh bại những kẻ thù mạnh nhất trên thế giới. Trong hòa bình, lòng yêu nước là sức mạnh để chúng ta vượt qua những khó khăn, giúp đất nước phát triển đi lên. - Lòng yêu nước còn khiến mỗi chúng ta sống có trách nhiệm hơn với cộng đồng, với quê hương, dân tộc và với chính bản thân mình. Dẫn chứng: Yêu nước là tình cảm, là truyền thống quý báu của dân tộc. Lịch sử của dân tộc ta có nhiều cuộc kháng chiến chứng tỏ tinh thần yêu nước của dân tộc ta, “chúng ta có quyền tự hào về những trang lịch sử vẻ vang thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung”, cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ thần thánh của dân tộc. - Lòng yêu nước luôn là cảm hứng trong thi ca .“Ôi Tổ quốc ta yêu như máu thịt Như mẹ cha ta, như vợ như chồng - Tình yêu nước được thể hiện trong các tác phẩm văn học bất hủ “Nam quốc sơn hà” của Lí Thường Kiệt, “Hịch tướng sĩ” (Trần Quốc Tuấn), “Bình Ngô đại cáo”- Nguyễn Trãi, “Tuyên ngôn độc lập” – Hồ ChíMinh. 3. Phản biện: - Yêu nước là tình cảm thiêng liêng và cao quý trong mỗi con người. Tuy nhiên thực tế trong xã hội hiện nay, khi tình hình chính trị có nhiều phức tạp, nhiều thế lực thù địch đã lôi kéo, kích động nên có một số người lập trường tư tưởng không vững vàng chống đối lại chính quyền, làm nhiều việc hủy hoại thanh danh và ổn định kinh tế, chính trị đất nước. Những việc làm này đi ngược lại với truyền thống quý báu của dân tộc, thật đáng lên án. 4.Bài học - Chúng ta phải ý thức rõ vai trò của đất nước đối với mỗi con người, ra sức bảo vệ, xây dựng, phát triển đất nước lên tầm cao mới. Đó chính là cách thiết thực nhất để thể hiện tình yêu đất nước của mình. - Là học sinh, để góp phần vào truyền thống yêu nước của dân tộc, chúng ta phải không ngừng học tập, phấn đấu tu dưỡng về đạo đức để góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh trong tương lai. d.Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt. 0.25 e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề cần nghị luận, có cách diễn đạt mới 0.25 mẻ. 2 Câu 2: Nghị luận văn học a.Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận 0.25 Mở bài nêu được vấn đề Thân bài triển khai được vấn đề Kết bài khái quát được vấn đề. b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: 0.5 - Phân tích nhân vật Mị trong đoạn trích. - Nhận xét nghệ thuật khắc họa nội tâm nhân vật của Tô Hoài. c.Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm MỞ BÀI: Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm, vấn đề nghị luận Giới thiệu tác giả, tác phẩm: - Tô Hoài là một trong những cây bút văn xuôi hàng đầu của nền văn học hiện đại Việt Nam. Ông có giọng văn kể chuyện hóm hỉnh, rất có duyên và đầy sức hấp dẫn; có vốn ngôn ngữ bình dân phong phú và sử dụng nó rất linh hoạt, đắc địa. – “Vợ chồng A Phủ” là một truyện ngắn xuất sắc trong đời văn Tô Hoài nói riêng và văn học hiện đại Việt Nam nói chung. Nhân vật Mị được tác giả tập trung xây dựng, khắc họa, trở thành điển hình cho số phận cay đắng, tủi cực của người lao Trang 4
  5. động miền núi Tây Bắc thời kì trước cách mạng tháng Tám và quá trình họ tự đấu tranh, giải phóng mình. - Nêu vấn đề cần nghị luận: Sức hấp dẫn của thiên truyện chủ yếu từ nghệ thuật khắc họa nhân vật Mị, nhất là khi nhà văn đi sâu và nội tâm nhân vật ở đoạn trích: “Trong bóng tối, Mị đứng im lặng [ ].Cổ tay, đầu, bắp chân bị dây trói siết lại, đau đứt từng mảnh thịt.” THÂN BÀI: 1. Khái quát tác phẩm: 0.5 đ - Hoàn cảnh sáng tác: Trong chuyến đi thực tế dài 8 tháng cùng bộ đội và giải phóng Tây Bắc. “Vợ chồng A Phủ” In trong tập “Truyện Tây Bắc“- Giải nhất Hội Văn nghệ Việt Nam 1954-1955. - Bố cục: “Vợ chồng A Phủ” gồm hai phần: phần đầu kể về cuộc sống tủi nhục của Mị và A Phủ ở Hồng Ngài, là nô lệ nhà thống lí Pá Tra; cuối phần một là cảnh Mị cứu và chạy theo A Phủ. Phần sau kể về Mị và A Phủ ở Phiềng Sa. Họ trở thành vợ chồng, được giác ngộ cách mạng. -Tóm tắt tác phẩm: - Đoạn trích: Với tấm lòng nhân đạo cao cả, nhà văn đã không nhấn chìm Mị trong tăm tối, khổ đau. Bằng những cách khác nhau, nhà văn đã vực dậy sức sống vốn dĩ rất tiềm tàng và mãnh liệt bên trong “con rùa lùi lũi” kia. “Nhà văn phải biết khơi lên ở con người niềm trắc ẩn, ý thức phản kháng cái ác; cái khát vọng khôi phục và bảo vệ những cái tốt đẹp”. (Ai ma tôp). Nhà văn Tô Hoài quả thực đã làm được điều đó khi thể hiện sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị. Những tưởng Mị sẽ cam chịu, chấp nhận kiếp sống ấy cho đến chết nhưng bằng một trái tim đầy yêu thương nhà văn Tô Hoài đã khám phá phát hiện ra đằng sau sự cam chịu, chấp nhận ấy của Mị là sức sống tiềm tàng mãnh liệt. Và chính sức sống tiềm ẩn bên trong một khi sống dậy thì rất mãnh liệt ấy đã giúp Mị từng bước tháo cũi sổ lồng, tìm được hạnh phúc cho cuộc đời mình. Tiếng sáo và những đêm tình mùa xuân đã đánh thức khát vọng sống và giấc mộng lứa đôi, khơi dậy sức sống tiềm tàng ở Mị. Ở đoạn văn trước đó, rượu và tiếng sáo là chất men say đánh thức phần đời đã mất, khơi dậy sức sống tiềm tàng vốn bị vùi chôn ở nơi sâu kín nhất trong tâm hồn của Mị. Đoạn văn này miêu tả nhân vật Mị khi bị trói và cho thấy sức sống tiềm tàng của nhân vật một khi đã sống dậy thì khó có thể dập tắt 2.Triển khai VĐNL Yêu cầu 1: Phân tích nhân vật Mị trong đoạn trích 2.0 đ 1. Mị muốn đi chơi Khi tiếng sáo gọi bạn yêu ngoài kia đang réo rắt, khi mà cả thiên đường hạnh phúc của mùa xuân phía sau ô cửa nhỏ kia đang nồng nàn, thôi thúc trái tim Mị. Mị không thể ngồi yên được nữa. Khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc biến thành tinh thần phản kháng mạnh mẽ, hóa thành hành động cụ thể: Bây giờ Mị cũng không nói. Mị đến góc nhà, lấy ống mỡ, xắn một miếng bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng. Hành động ngỡ như đột ngột, nhưng nó là kết quả tất yếu của sự tác động qua lại giữa hoàn cảnh và tâm lí nhân vật. Không phải bỗng dưng mà Tô Hoài chọn hành động thắp đèn làm hành động đầu tiên sau khi người con gái lặng câm ấy thức tỉnh, bởi trong hoàn cảnh này ngọn đèn như xua tan đi tất cả cái bóng tối u ám đang bao quanh cuộc đời Mị. Ngọn đèn thắp sáng tâm hồn Mị, đốt cháy cả nỗi khát khao vượt ra khỏi bức tường địa ngục để đến với thế giới ngoài kia đang dập dìu tiếng sáo. Trong đầu Mị đang rập rờn tiếng sáo. Mị muốn đi chơi. Mị cũng sắp đi chơi. Mị quấn lại tóc, Mị với tay lấy cái váy hoa vắt phía trong vách. Mị hành động thản nhiên, dù A Sử đang hiện diện trong căn buồng của Mị. Điều đó cho thấy Mị không còn sợ, bóng ma thần quyền đã không thể làm gì Mị bởi sức sống trong con Mị đang trỗi dậy mạnh mẽ. Mị muốn đi chơi và Mị chuẩn bị đi chơi. Nhưng đớn đau thay, sự độc ác tàn nhẫn của giai cấp thống trị miền núi mà ở đây đại diện là A Sử đã dập tắt đi khát vọng vừa trỗi dậy của Mị. A Sử đã nhẫn tâm trói Mị bằng một thúng sợi đay, tóc Mị xõa xuống hắn cuốn luôn tóc Mị lên cột Trang 5
  6. làm cho Mị không cúi, không nghiêng đầu được nữa. Chi tiết này bộc lộ rõ sự đè nén, áp chế đến tàn nhẫn của bọn thống trị với người dân miền núi. 2. Diễn biến tâm trạng Mị khi bị trói * Quên thực tại đau đớn, say sưa với tiếng sáo Nhưng lúc này, Mị đâu còn sống bằng thể xác nữa mà Mị đang thực sự đang sống với tâm hồn. A Sử trói được thể xác nhưng không thể nào trói được tâm hồn Mị. Thậm chí sự áp bức về thể xác càng lớn thì sự trỗi dậy của tinh thần càng mạnh mẽ bởi tâm hồn Mị đã vượt ra khỏi cái lỗ vuông bằng bàn tay kia để sống cùng đêm tình mùa xuân. Thể xác Mị đang ở giữa bốn bức tường câm lặng, đang bị đau đớn nhưng hồn Mị đang "đi theo những cuộc chơi những đám chơi". Mị thả hồn theo những cuộc chơi, những tiếng sáo gọi bạn tình tha thiết, tiếng sáo không chỉ vang vọng trong không gian mà đang hiện hữu trong tâm hồn Mị. Mị còn nhẩm thuộc lòng trong đầu lời bài hát của người thổi sáo mà có lẽ đó cũng là bài hát và khúc nhạc sáo mà Mị thổi năm nào: «Em không yêu, quả pao rơi rồi. Em yêu người nào, em bắt pao nào?». Tâm hồn Mị ngập đầy tiếng sáo, tiếng sáo gợi nhắc cả một quá khứ tươi đẹp, tiếng sáo là biểu tượng cho hạnh phúc lứa đôi. Âm thanh của tiếng sáo như ma lực làm bùng cháy trong Mị niềm khao khát yêu, khao khát sống. khiến Mị quên mình đang bị trói và "Mị vùng bước đi". Giữa đoạn văn là một câu rất ngắn, chỉ có bốn chữ: Mị vùng bước đi Chính cái tiếng sáo ấy đã gọi Mị vùng bước đi về với cuộc sống thật của mình đã bị cướp mất trong cái địa ngục trần gian này. Mới biết sức sống tiềm tàng, mãnh liệt đến nhường nào. Sức sống ấy khiến cô quên đi tất cả hiện thực xung quanh, không thấy, không nghe A Sử nói, không biết cả mình đang bị trói! Chỉ còn biết có tiếng sáo, chỉ còn sống với tiếng sáo, mê man chập chờn trong tiếng sáo. Xây dựng nên cái tâm trạng mê man như một kẻ mộng du đi theo tiếng sáo. Tô Hoài đã nói lên rất rõ và sâu sắc cái sức sống mãnh liệt đang trào dâng trong lòng cô lúc bấy giờ. Và tiếng sáo đã thành một biểu tượng sâu sắc và gợi cảm cho ước mơ và sức sống của Mị.Thật cô đúc mà thấm thìa, kiệm lời mà hàm chứa nhiều ý nghĩa.Hành động này cho thấy sức sống của tâm hồn Mị lớn hơn nỗi đau thể xác. Trên là âm thanh tiếng sáo, dưới là tiếng chân ngựa. “Mị vùng bước đi” như một cái bản lề khép mở hai thế giới, hai tâm trạng: thế giới của ước mơ với tiếng sáo rập rờn trong đầu và thế giới của hiện thực với tiếng chân ngựa đạp vào vách: tâm trạng của một cô Mị đang mê man chập chờn theo tiếng sáo gọi bạn tình và tâm trạng của một cô Mị đã tỉnh đang “thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa”. * Mị trở về với thực tại Nhưng rồi việc "tay chân đau không cựa được" đã đưa Mị về với hiện thực cay đắng là Mị đang bị trói. Mị rời khỏi thế giới mộng tưởng, không nghe tiếng sáo nữa chỉ còn nghe thấy tiếng ngựa đạp vách, ngựa vẫn đứng yên gãi chân, nhai cỏ. Mị chợt nhận ra và ý thức sâu sắc về nỗi bất hạnh của mình "Mị thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa". Hình ảnh so sánh con người với con vật cứ day dứt, trở đi trở lại trong tác phẩm. Mị không chỉ khổ như trâu ngựa mà thậm chí còn khổ hơn cả kiếp trâu kiếp ngựa bởi vì trâu, ngựa còn có lúc nó được gặm cỏ, gãi chân còn Mị và những người đàn bà làm dâu nhà thống lí cả đời chỉ biết đi theo đuôi con ngựa của chồng và làm việc quần quật suốt ngày đêm. Các chị vợ anh, vợ chú của A Sử có còn ở nhà và dịp Tết họ có được đi chơi hay cũng phải trói như Mị. Mị nhận ra rằng cuộc đời người đàn bà sa vào nhà quan là khốn khổ, là bị chà đạp, bị trói và tính mạng bị xem thường. * Hai tâm trạng đan xen Tiếng chó sủa xa xa, đêm chừng đã khuya, Mị lại hồi nhớ lúc này là lúc trai đến bên vách làm hiệu rủ người yêu vào rừng chơi. Thế nên dù có trở về thực tại đau đớn, tủi nhục nhưng rồi «Mị lại bồi hồi ». Cứ thế suốt đêm, Mị lúc mê lúc tỉnh. Lúc mê thì sống trong "hơi rượu tỏa" cùng tiếng sáo mênh mang gọi bạn tình "nồng nàn tha thiết nhớ". Lúc tỉnh thì cảm nhận sự đau đớn vì khắp người bị dây trói thít lại, đau nhức. Rất tài tình thì nhà văn mới có thể miêu tả được tâm trạng của nhân Trang 6
  7. vật lúc này bởi nhân vật không sống với cái xác mà sống với hồn cốt và sống với hoài niệm trong tâm trí của mình, một trạng thái chập chờn giữa cơn tỉnh, cơn mơ. Có một chi tiết lại xuất hiện như một dấu hiệu thức tỉnh của nhân vật. Đó là hình ảnh giọt nước mắt của Mị. Mị đã khóc ròng rã hàng tháng trời khi bị bắt về làm dâu nhà thống lí. Nhưng cũng đã bao ngày tháng Mị không khóc, cũng không còn buồn nữa. Và cho đến tận bây giờ giọt nước mắt ấy lại chảy ra, phải chăng đó là dấu hiệu một tâm hồn, một sức sống đã hồi sinh thực sự. Chi tiết này có lẽ Tô Hoài đã bắt gặp Nam Cao, bởi các nhân vật của Nam Cao cũng có những giọt nước mắt của sự bừng tỉnh: Hộ khóc, Chí Phèo khóc, Thứ khóc... Mị khóc, Mị đã hồi sinh để nhận ra bi kịch của cuộc đời mình. Đoạn văn đồng thời đan xen cả hiện tại và quá khứ, giữa tỉnh và say, giữa thực và mơ. Cả đêm hôm đó Mị sống trong trạng thái như thế cho tận đến sáng, có lẽ đó là lúc hơi rượu đã nhạt, tiếng sáo đã ngừng và đêm tình mùa xuân cũng tàn thì Mị mới choàng tỉnh. * Mị sợ chết Có một chi tiết rất đắt khi nhà văn kết thúc diễn biến tâm trạng của Mị trong đêm bị trói. Đó là chi tiết Mị tỉnh dậy và nhớ lại câu chuyện người đàn bà bị chồng trói chết trong căn nhà này. Và Mị đã sợ, sợ chết "Mị cựa quậy xem thử mình còn sống hay đã chết". Cô Mị của ngày xưa - một người vô cảm, sống như đang chết, sống trong cảm giác chờ đợi sự giải thoát từ cái chết, giờ đây lại biết xót thương cho người khác, biết sợ hãi trước cái chết. Sợ chết chính là biểu hiện của lòng ham sống. Chính tiếng sáo, tiếng gọi tình yêu đã giúp Mị nhận ra sự sống là đáng quý, phải sống để được yêu, được đón nhận hạnh phúc tuổi trẻ Như vậy rõ ràng là cường quyền và thần quyền tàn bạo không thể dập tắt nổi khát vọng hạnh phúc, tình yêu của Mị. Cuộc nổi loạn tuy không thành công nhưng nó đã cho người đọc thấy sức sống mãnh liệt tiềm tàng trong con người Mị. Sức sống trong Mị vẫn mãnh liệt như những đợt sóng ngầm trong lòng đại dương. Nói như nhà văn Lỗ Tấn "Một tia lửa hôm nay báo hiệu một đám cháy ngày mai". Để rồi những đợt sóng ngầm ấy cuối cùng trở thành bão táp, tia lửa ấy rồi đã hóa thành đám cháy lớn vào đêm Mị cắt dây trói cho A Phủ rồi chạy trốn. 3. Đánh giá 0.5 đ Nhận xét về nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật Bằng việc lựa chọn chi tiết đặc sắc, sử dụng hình ảnh giàu sức biểu tượng, giọng điệu trần thuật linh hoạt nhà văn đã diễn tả một cách tinh tế, hấp dẫn diễn biến tâm trạng nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân, nhất là khi bị trói rất tinh tế, sâu sắc. Nghệ thuật miêu tả tâm trạng nhân vật Mị được thể hiện: Miêu tả theo quá trình chuyển hóa tâm lí từ suy nghĩ tuyệt vọng đến tâm lý hồi sinh sức sống; Miêu tả tâm lý qua hành động; sự phân thân trạng thái tinh thần ở Mị. Giọng kể của nhà văn nhập vào dòng tâm tư nhân vật, làm nổi bật ý nghĩ, tâm trạng và những trạng thái chập chờn của tiềm thức nhân vật... Diễn biến tâm lí của Mị được tác giả miêu tả tinh tế, phù hợp với tính cách của nhân vật. Nhà văn sử dụng khá nhiều những yếu tố bên ngoài tác động vào nhân vật, như tiếng sáo gọi bạn tình, tiếng chó sủa xa xa, tiếng chân ngựa đạp vách...Sở trường phân tích tâm lí cho phép ngòi bút tác giả lách sâu vào những bí mật của đời sống nội tâm, phát hiện nét đẹp và nét riêng của tính cách. Ngôn ngữ sinh động, chọn lọc, câu văn giàu tính tạo hình, biểu cảm cùng với tấm lòng nhân hậu, một tài năng phân tích tâm lí nhân vật bậc thầy, Tô Hoài đã khám phá, diễn tả chiều sâu tâm hồn cùng những biến thái thăng trầm, gấp khúc, tuần tự và đột biến trong tâm trạng Mị. Ý nghĩa của đoạn trích Đoạn trích góp phần hoàn thiện chân dung nhân vật Mị. Dù nghèo khó, bị áp bức nhưng trong sâu thẳm tâm hồn vẫn tiềm tàng một sức sống mãnh liệt. Qua đó, nhà văn bày tỏ sự cảm thông; khám phá, trân trọng, ngợi ca những khao khát tình yêu, hạnh phúc của con người, thể hiện niềm tin vào sức sống của con người không bị hủy diệt. Đồng thời lên án những thế lực tàn bạo chà đạp lên cuộc sống Trang 7
  8. con người. Sức sống tiềm tàng mãnh liệt của Mị trong đoạn trích cũng như tác phẩm đã để lại trong lòng bao thế hệ bạn đọc một ấn tượng khó phai mờ, đã góp phần nêu bật giá trị nhân đạo của tác phẩm và khẳng định tên tuổi của nhà văn Tô Hoài. Yêu cầu 2: Nhận xét cái nhìn về người nông dân của nhà văn Tô Hoài 0.5 đ (nhân đạo) Nhà văn nhìn người nông dân Tây Bắc dưới ách thống trị của bọn chúa đất miền núi đã bị chà đạp tàn nhẫn từ thể xác đến tinh thần. Nhưng trong chiều sâu tâm hồn của họ vẫn có sức sống tiềm tàng mãnh liệt của khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc, tình yêu và khát vọng tự do. Tuy sống trong thân phận trâu ngựa, bị đoạ đày giữa địa ngục trần gian nhưng họ không bao giờ chịu đầu hàng số phận, mà vẫn tìm cách vượt ngục tinh thần, tâm hồn được hồi sinh. Đó còn là cái nhìn lạc quan, tin tưởng vào sức mạnh của người nông dân trong tư tưởng tiến bộ của nhà văn cách mạng Tô Hoài. Cách nhìn mới mẻ, tin yêu về người nông dân cho thấy tài năng quan sát, miêu tả thiên nhiên, phong tục tập quán, đặc biệt khả năng diễn tả quá trình phát triển tính cách nhân vật hợp lí, tự nhiên, phong phú, phức tạp mà sâu sắc, phù hợp với quy luật phép biện chứng tâm hồn của nhà văn-người có duyên nợ với mảnh đất và con người Tây Bắc. KẾT BÀI: - Kết luận lại vấn đề - Cảm nghĩ bản thân d. Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt 0,25 e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề cần nghị luận; có cách diễn dạt 0,5 mới mẻ. Tổng điểm toàn bài (I + II) 10 Trang 8