Đề thi thử Tốt nghiệp Trung học Phổ thông môn Ngữ Văn Lớp 12 - Đề số 1 - Năm học 2023-2024 (Có đáp án)

pdf 8 trang cattuong 07/12/2025 2220
Bạn đang xem tài liệu "Đề thi thử Tốt nghiệp Trung học Phổ thông môn Ngữ Văn Lớp 12 - Đề số 1 - Năm học 2023-2024 (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfde_thi_thu_tot_nghiep_trung_hoc_pho_thong_mon_ngu_van_lop_12.pdf

Nội dung tài liệu: Đề thi thử Tốt nghiệp Trung học Phổ thông môn Ngữ Văn Lớp 12 - Đề số 1 - Năm học 2023-2024 (Có đáp án)

  1. ĐỀ MINH HỌA CHUẨN ĐỀ THI THỬ TN THPT NĂM 2024 CẤU TRÚC BGD 2024 Môn thi: Ngữ Văn Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề ĐỀ SỐ 01 Họ, tên thí sinh: Số báo danh: I. ĐỌC - HIỂU (3,0 điểm) Đọc văn bản: Sống phải biết trân trọng từng phút giây Bởi hững hờ trong chốc lát mà thôi Sẽ để ta ân hận cả cuộc đời Mọi hối tiếc, ân hận thời vô nghĩa Sống phải biết quan tâm và san sẻ ( ) Sống phải biết để tâm hồn bình lặng Được ấm no là may mắn hơn người Hãy mỉm cười thay nước mắt ai ơi Nghĩ giản đơn cho cuộc đời hương vị (Nguồn: Tùng Trần 2019, 101 bài thơ hay về cuộc sống khuyên nhau sống tốt) Thực hiện các yêu cầu: Câu 1: Xác định thể thơ của văn bản trên. Câu 2: Trong văn bản, tác giả đã đưa ra những lời khuyên gì? Câu 3: Anh/chị hiểu như thế nào về nội dung những dòng thơ sau: Hãy mỉm cười thay nước mắt ai ơi Nghĩ giản đơn cho cuộc đời hương vị Câu 4: Anh/chị có đồng tình với quan điểm của tác giả được thể hiện trong câu thơ Sống phải biết quan tâm và san sẻ? II. LÀM VĂN (7,0 điểm) Câu 1: (2,0 điểm) Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của việc trân trọng thời gian. Câu 2: (5,0 điểm) Phân tích nhân vật A Phủ trong đoạn trích sau. Từ đó nhận xét vẻ đẹp tâm hồn của người dân lao động Tây Bắc trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài. “Những đêm mùa đông trên núi cao dài và buồn. Nếu không có bếp lửa sưởi kia thì Mị cũng đến chết héo. Mỗi đêm, Mị dậy ra thổi lửa hơ tay, hơ lưng, không biết bao nhiêu lần. Thường đến khi gà gáy, Mị dậy ra bếp sưởi lửa một lúc thật lâu, các chị em trong nhà mới bắt đầu ra nhóm lò bung ngô, nấu cháo lợn. Mỗi đêm nghe tiếng phù phù thổi bếp, A Phủ lại mở mắt. Ngọn lửa bùng lên, cùng lúc ấy, Mị cũng cũng mắt nhìn sang, thấy mắt A Phủ mở trừng trừng, mới biết A Phủ còn sống. Mấy đêm nay như thế. Nhưng Mị vẫn thản nhiên thổi lửa hơ tay. Nếu A Phủ là cái xác chết đứng đấy cũng thế thôi. ( ) Trang 1
  2. Lúc ấy đã khuya. Trong nhà đã ngủ yên, thì Mị trở dậy thổi lửa. Ngọn lửa bập bùng sáng lên, Mị lé mắt trông sang, thấy hai mắt A Phủ cũng vừa mở, một dòng dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hóm má đã xám đen lại. Nhìn thấy tình cảnh như thế, Mị chợt nhớ lại đêm năm trước A Sử trói Mị, Mị cũng phải trói đứng thế kia. Nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ, không biết lau đi được. Trời ơi, nó bắt trói đứng người ta đến chết, nó bắt mình chết cũng thôi, nó bắt trói đến chết người đàn bà ngày trước cũng ở cái nhà này. Chúng nó thật độc ác. Cơ chừng này chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết. Ta là thân đàn bà, nó đã bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi... Người kia việc gì mà phải chết thế. A Phủ ... Mị phảng phất nghĩ như vậy. ( ) Lúc ấy, trong nhà đã tối bưng, Mị rón rén bước lại, A Phủ vẫn nhắm mắt, nhưng Mị tưởng như A Phủ đương biết có người bước lại... Mị rút con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây. A Phủ cứ thở phè từng hơi, không biết mê hay tỉnh. Lần lần, đến lúc gỡ được hết dây trói ở người A Phủ thì Mị cũng hốthoảng, Mị chỉ thì thào được một tiếng "Ði ngay..." rồi Mị nghẹn lại. A Phủ bỗng khuỵu xuống, không bước nổi. Nhưng trước cái chết có thể đến nơi ngay, A Phủ lại quật sức vung lên, chạy. Mị đứng lặng trong bóng tối. Rồi Mị cũng vụt chạy ra. Trời tối lắm. Nhưng Mị vẫn băng đi. Mị đuổi kịp A Phủ, đã lăn, chạy xuống tới lưng dốc, Mị nói, thở trong hơi gió thốc lạnh buốt: - A Phủ cho tôi đi. A Phủ chưa kịp nói, Mị lại nói: - Ở đây thì chết mất. A Phủ chợt hiểu. Người đàn bà chê chồng đó vừa cứu sống mình. A Phủ nói: “Đi với tôi”. Và hai người lẳng lặng đỡ nhau lao chạy xuống dốc núi”. (Trích Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài, SGK Ngữ văn 12, tập 2, NXB GD 2008, tr.13,14) Trang 2
  3. HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT Phần Câu Nội dung Điểm I ĐỌC HIỂU 3,0 1 Thể thơ tự do. 0,75 2 Trong văn bản, tác giả đã đưa ra những lời khuyên: 0,75 - Sống phải biết trân trọng từng phút giây - Sống phải biết quan tâm và san sẻ - Sống phải biết để tâm hồn bình lặng - Hãy mỉm cười thay nước mắt ai ơi - Nghĩ giản đơn cho cuộc đời hương vị 3 Thí sinh nêu được suy nghĩ về nội dung của hai dòng thơ, có thể theo 1,0 hướng: - Hai dòng thơ thể hiện lời khuyên của tác giả, tác giả khuyên chúng ta: + Hãy luôn mỉm cười để sống vui vẻ và lạc quan, đừng chìm trong nước mắt để mãi sống trong nỗi đau khổ. + Hãy nghĩ đơn giản, đừng phức tạp hóa vấn đề để cuộc sống tốt đẹp hơn. - Hai dòng thơ thể hiện quan điểm sống tích cực của tác giả, hãy lạc quan và đơn giản hóa mọi vấn đề. 4 Thí sinh nêu quan điểm của bản thân về quan điểm của tác giả, có thể theo 0,5 hướng: - Đồng tình với quan điểm của tác giả Sống phải biết quan tâm và san sẻ vì đây là một quan điểm sống tích cực. + Sống phải biết quan tâm đến người khác. + Sống phải biết san sẻ vật chất, tinh thần cho người khác. + Khi biết quan tâm, san sẻ, cuộc sống của bản thân và người khác sẽ trở nên tốt đẹp. Khí đó, chúng ta sẽ tạo ra được một môi trường sống hạnh phúc. II LÀM VĂN 7,0 1 Viết một đoạn văn về ý nghĩa của việc trân trọng thời gian. 2,0 Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn 0,25 Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo một cách hoặc kết hợp các cách: diễn dịch, quy nạp, móc xích, tổng-phân- hợp; đảm bảo yêu cầu cấu trúc đoạn văn. Xác định đúng vấn đề nghị luận 0,25 Nhận thức được ý nghĩa của việc trân trọng thời gian. Triển khai vấn đề nghị luận 1,0 Thí sinh có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp, triển khai vấn đề theo nhiều cách để làm rõ ý nghĩa của việc trân trọng thời gian; đảm bỏ hợp lý, thuyết phục, phù hợp với đạo đức, pháp luật. Có thể theo hướng: Trang 3
  4. - Thời gian là gì? Thời gian là một khái niệm để diễn tả trình tự xảy ra của các sự kiện nhất định, biến cố và thời gian kéo dài của chúng. Trân trọng thời gian là không lãng phí thời gian, sử dụng thời gian hợp lí vào những việc có ích. - Ý nghĩa của việc trân trọng thời gian: + Trân trong thời gian giúp chúng ta sắp xếp được công việc một cách khoa học, hợp lý và dễ dàng đạt được thành công. + Trân trọng thời gian sẽ giúp chúng ta hoàn thành tốt nhiệm vụ, công việc được giao đúng thời hạn. + Trân trọng thời gian của bản thân mình sẽ giúp chúng ta có nhận thức đúng đắn và quý trọng thời gian của người khác. + Trân trọng thời gian giúp chúng ta lan tỏa cảm xúc tích cực và tạo ra được những năng lượng tích cực trong cuộc sống. - Ví dụ: Nữ bác sĩ Nguyễn Thị Hạnh, khoa Cơ xương khớp, BV Bạch Mai phát hiện bị ung thư tuyến vỏ thượng thận giai đoạn cuối. Biết được thời gian sống của mình không còn nhiều, nữ bác sĩ đã dành hết thời gian để vừa chăm sóc cho gia đình, cho bản thân và cho bệnh nhân. Sau 9 tháng điều trị tích cực, chị trút hơi thở cuối cùng vào ngày 16/11/2018 khi mới 33 tuổi khiến tất thảy người thân, đồng nghiệp đều thương xót. Câu chuyện của chị đã truyền cảm hứng cho những bệnh nhân ung thư về tinh thần lạc quan, về sự trân trọng thời gian. - Tuy nhiên, trong xã hội hiện nay vẫn còn rất nhiều người chưa biết trân trọng thời gian, họ lãng phí thời gian vào những việc làm vô ích, những người này đáng bị thẳng thắn phê phán. - Mỗi chúng ta phải biết dành quỹ thời gian của mình cho việc học để phát triển bản thân. Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần dành thời gian cho những người thân yêu và theo đuổi những sở thích, đam mê riêng của bản thân. Chính tả, từ ngữ, ngữ pháp 0,25 Đảm bảo chuẩn chính tả, từ ngữ, ngữ pháp tiếng Việt. Sáng tạo 0,25 Thể hiện suy nghĩ sâu sắc, có ý tưởng riêng phù hợp với vấn đề nghị luận; có cách lập luận, diễn đạt mới mẻ. 2 5,0 Phân tích nhân vật A Phủ, nhận xét vẻ đẹp tâm hồn của người dân lao động Tây Bắc trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài. a.Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận: 0,25 Mở bài nêu được vấn đề; thân bài triển khai được vấn đề; kết bài khái quát được vấn đề. b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: 0,5 Phân tích nhân vật A Phủ, nhận xét vẻ đẹp tâm hồn của người dân lao động Tây Bắc trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài. c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách; cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; cần đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau: Trang 4
  5. * Giới thiệu khái quát về tác giả Tô Hoài, tác phẩm Vợ chồng A Phủ và vấn 0,5 đề nghị luận - Tô Hoài (1920-2014) tên khai sinh là Nguyễn Sen, quê ở Hà Nội, là một nhà văn lớn, có số lượng tác phẩm đạt kỉ lục trong văn học hiện đại Việt Nam. Văn của ông hấp dẫn người đọc bởi lối trần thuật hóm hỉnh, sinh động của người từng trải, vốn từ vựng giàu có nhiều khi rất bình dân. - Tác phẩm “Vợ chồng A Phủ”(1952) là thành quả của chuyến đi thực tế dài 8 tháng cùng bộ đội giải phóng Tây Bắc của Tô Hoài. Tác phẩm được in trong tập Truyện Tây Bắc. “Vợ chồng A Phủ” là câu chuyện về những người dân lao động vùng cao Tây Bắc không cam chịu sự đọa đày, áp bức của bọn thực dân, chúa đất phong kiến miền núi đã vùng lên phản kháng, đi tìm cuộc sống tự do. - Hình ảnh nhân vật A Phủ được nhà văn miêu tả trong đoạn trích là một đứa ở gạt nợ chịu đựng sự tra tấn dã man của cha con Pá Tra trong những đêm mùa đông. Nhưng với lòng ham sống và khao khát tự do A Phủ đã cũng Mị bỏ trốn khỏi Hồng Ngài. Từ đó, tác giả thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của người dân lao động Tây Bắc. * Phân tích nhân vật A Phủ trong đoạn trích. - Giới thiệu khái quát về A Phủ: 2,0 + A Phủ là người Háng-bla, bỏ trốn lên Hồng Ngài. A Phủ khỏe, lao động giỏi nhưng A Phủ nghèo, không có người thân thích, không có nương, không có bạc. Qua đó, người đọc cảm nhận được cuộc sống khổ cực của người dân miền núi. + Hoàn cảnh sống của A Phủ trước khi là đứa ở gạt nợ đáng thương như hoàn cảnh sống của Chí Phèo trước khi đi làm canh điền cho Bá Kiến ( Chí Phèo- Nam Cao )Mặc dù vậy nhưng A Phủ rất lạc quan và yêu đời, ngày Tết không có quần áo mới nhưng A Phủ vẫn đi chơi. Trong ngày Tết, A Sử gây sự với đám chơi của A Phủ. A Phủ đánh A Sử rất nặng. A Sử bị thương và A Phủ bị bắt về nhà Pá Tra. + Tô Hoài sử dụng yếu tố thời gian đồng hiện để giới thiệu về lai lịch, nguồn gốc của A Phủ. A Phủ trở thành đứa ở gạt nợ. A Phủ phải lao động vất vả. Vì để hổ ăn mất bò nên A Phủ bị trói vào cột trong những đêm mùa đông dài và buồn trên núi cao. A Phủ phải chịu đựng nỗi đau thể xác vì những sợi dây mây quấn chặt lấy A Phủ. - Hoàn cảnh nhân vật xuất hiện: A Phủ được miêu tả trong hoàn cảnh đặc biệt đó là trong những đêm mùa đông dài và buồn trên núi cao trong căn bếp nhà Pá Tra. Đó là những đêm mùa đông dài và buồn trên núi cao. Câu văn trầm và buồn như một tiếng thở dài như nỗi lòng của A Phủ. Những đêm mùa đông ấy lạnh bởi khí hậu trên núi cao khắc nghiệt. Để chống trọi với nỗi đau đớn bởi sợi dây trói trong những đêm mùa đông, A Phủ đã kiên cường tìm kiếm cơ hội sống. - Cuộc gặp gỡ giữa A Phủ và Mị: Trong những đêm đông đó, A Phủ đã gặp Mị và cuộc đời của A Phủ đã hoàn toàn thay đổi. + Theo thói quen, theo bản năng, Mị thường ra bếp sưởi một lúc thật lâu khi gà gáy sáng. Mị dường như không ngủ chỉ chợp mắt được từng lúc, Mị lại ra sưởi lửa suốt đêm. Mị rất cô đơn. Tô Hoài đã xây dựng được một chi tiết, sự việc rất tiêu biểu, thể hiện tài năng nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn khi ông tái hiện cuộc gặp gỡ của Mị và A Phủ. Theo thói quen, theo bản Trang 5
  6. năng, Mị thường ra bếp sưởi một lúc thật lâu khi gà gáy sáng. Mị dường như không ngủ chỉ chợp mắt được từng lúc, Mị lại ra sưởi lửa suốt đêm. + Những hành động của Mị, A Phủ đều biết. Vì mỗi đêm, khi nghe tiếng phù phù thổi bếp, A Phủ lại mở mắt. Mị và A Phủ đều biết sự hiện diện của nhau trong căn bếp nhỏ nhưng cả hai đều không hề giao tiếp với nhau một lời. Họ chỉ nhìn nhau qua ánh mắt ngọn lửa sưởi bùng lên, cùng lúc ấy thì Mị cũng nhìn sang, thấy mắt A Phủ mở trừng trừng. Hình ảnh đôi mắt A Phủ mở cho Mị biết A Phủ còn sống. Hình ảnh đó cho thấy A Phủ đang rất phẫn uất vì bị trói, vì sự thản nhiên của Mị. Ánh mắt của A Phủ như thiêu như đốt tâm can người đọc nhưng ánh mắt ấy không hề khiến Mị mảy may. Mị vô cảm. - A Phủ chịu đựng nỗi đau thể xác và tinh thần khi bị trói: + Mị và A Phủ vẫn gặp nhau, nhìn thấy nhau và im lặng với nhau như vậy đã mấy đêm nay. Nhưng Mị thản nhiên: “Nếu A Phủ là cái xác chết đứng đấy, cũng thế thôi”. Cảnh bị trói đến chết không phải là hiếm hoi ở nhà thống lí. Mị đã chịu đựng quá nhiều đau khổ về thể xác lẫn tinh thần khiến Mị trơ lì cảm xúc, tê liệt khả năng cảm thông, chia sẻ với cảnh ngộ khốn cùng của người khác. Mị không qua tâm đến sự sống chết của A Phủ. + A Phủ vốn là một chàng trai dũng cảm và gan dạ. Trong phiên tòa xử tội đánh A Sử, A Phủ dũng cảm, im lặng như tượng gỗ chịu đựng những trận tra tấn của người nhà quan thống lí mà không khóc. Nhưng trong những đêm mùa đông này, chịu đựng nỗi đau thể xác và đối diện với sự thờ ơ của Mị khiến A Phủ tuyệt vọng mà khóc. Một đêm nữa lại đến, lúc đó mọi người trong nhà đã ngủ yên cả rồi, Mị lại thức dậy đến bếp đốt lửa lên để hơ tay. Lửa cháy sáng, “Mị lé mắt trông sang, thấy hai mắt A Phủ cũng vừa mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại”. Đó là dòng nước mắt của một kẻ nô lệ khi phải đối mặt với cái chết đến rất gần. Đó là dòng nước mắt tuyệt vọng bất lực vì sự vô cảm của người đàn bà đã quá đau khổ. + Cũng giống như chi tiết tiếng sáo, chi tiết dòng nước mắt A Phủ là một chi tiết rất đắt thể hiện rõ tài năng nghệ thuật viết truyện ngắn của Tô Hoài. Chính “dòng nước mắt lấp lánh ấy” đã làm tan chảy lớp băng giá lạnh trong lòng Mị. Đêm nay nhìn thấy nước mắt A Phủ, Mị nhớ lại đêm năm trước bị A Sử trói, khi “sợi dây gai dưới bắp chân vừa lỏng ra, Mị ngã gục xuống”. Đêm ấy Mị đã khóc, nước mắt chảy xuống miệng xuống cổ không biết lau đi được. Còn bây giờ đây Mị dường như không còn biết khóc nữa. Chính dòng nước mắt nhân tình khổ đau đã thành dòng nham thạch nung chảy tâm hồn đã đóng băng của Mị. + Dòng nước mắt tuyệt vọng của A Phủ đã đánh thức ý thức sống trong Mị. Mị không chỉ nhớ lại quá khứ tủi nhục mà trong giây phút ấy, Mị vừa thương mình, vừa căm phẩn lũ người tàn ác. Mị ý thức được chúng nó thật độc ác. Mị đau khổ cay đắng cho thân phận của mình: “Ta là thân đàn bà chúng nó đẵ bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết chờ ngày rũ xương ở đây thôi”. Nghĩ về mình, Mị lại nghĩ đến A Phủ “có chừng này chỉ đêm nay thôi là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết. Người kia việc gì mà phải chết như thế. A Phủ . Mị phảng phất nghĩ như vậy”. Thật sự, chẳng có lí do gì mà bọn thống lí Pá Tra bắt A Phủ phải chết vì cái tội để mất một con bò! Trang 6
  7. + Lí trí giúp Mị nhận ra “Chúng nó thật độc ác”. Việc trói người đến chết còn các hơn cả thú dữ trong rừng. Chỉ vì bị hổ ăn mất một con bò mà một người thanh niên khỏe mạnh, siêng năng, say sưa với cuộc đời đã phải lấy mạng mình thay cho nó. Bọn thống trị coi sinh mạng của A Phủ không bằng một con vật. Và dẫu ai phạm tội như A Phủ cũng bị xử phạt như thế mà thôi. Chính vì vậy nên Mị càng thương A Phủ. Lúc này, Mị chỉ còn biết có A Phủ, đám than đã vạc hẳn lửa nhưng Mị không buồn thổi. - A phủ khao khát sống và khao khát tự do và nhân ái: + Vốn là một chàng trai dũng cảm gan dạ, yêu tự do khi đối mặt với cái chết A Phủ cũng rất tuyệt vọng nhưng khi A Phủ được Mị cắt dây trói để bỏ trốn, A Phủ đã chớp lấy cơ hội sống sót và bỏ trốn khỏi Hồng Ngài. Khi Mị cắt dây trói cởi trói cho A Phủ, Mị có những diễn biến tâm lí khá phức tạp. Một loạt nét tâm lí ấy thúc đẩy Mị đến với hành động dùng dao cắt lúa rút dây mây cởi trói cho A Phủ. Mị thì thào lên một tiếng “đi ngay” rồi Mị nghẹn lại. Được Mị cắt dây trói, được Mị thúc giục, A Phủ vùng chạy để bỏ trốn khỏi Hồng Ngài. Giây phút ấy, A Phủ đã thoát khỏi kiếp sống đứa ở gạt nợ. Cơ hội sống tự do đã đến. A Phủ quật lên bỏ chạy. Có thể thấy tình yêu tự do, lòng khao khát sống mãnh liệt đã tiếp thêm sức mạnh cho A Phủ. + A Phủ rất nhân ái, bao dung và biết ơn với Mị. Khi Mị chạy đuổi kịp A Phủ, Mị xin A Phủ cho Mị đi cùng. Mị nói với A Phủ: A Phủ cho tôi đi. Ở đây thì chết mất. Lúc này Mị đặt tất cả sự hi vọng vào sự bao dung của A Phủ. Mị sống trong giây phút chờ đợi và hi vọng. Mị thật đáng thương! Và niềm hi vọng chờ đợi của Mị đã được A Phủ đền đáp A Phủ sẵn sang dang tay đón nhận Mị, giúp đỡ Mị. A Phủ nói với Mị: đi với tôi và đỡ Mị cùng lao chạy xuống núi. + A Phủ khác với A Sử bởi A Phủ là người đàn ông bao dung, nhân ái. Hình ảnh Mị và A Phủ lẳng lặng đỡ nhau lao chạy xuống dốc núi là hình ảnh đẹp nhất của tình người, của tinh thần đấu tranh chống cường quyền và thần quyền. A Phủ chính là hình ảnh tiêu biểu cho người lao động người Mèo 0,5 đau khổ bị vùi dập trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhưng vẫn luôn khát khao tự do. * Nhận xét nghệ thuật miêu tả nhân vật A Phủ trong đoạn trích: - Nét phong cách nghệ thuật: màu sắc dân tộc đậm đà chất thơ chất trữ tình thấm đượm, ngôn ngữ lời văn giàu tính tạo hình đã hội tụ và phát sáng trong truyện ngắn này. - Cách giới thiệu nhân vật rất ấn tượng. A Phủ xuất hiện trong những đêm mùa đông dài và buồn của vùng núi Tây Bắc. - Nghệ thuật đối thoại với ngôn ngữ bình dân, thể hiện sự bao dung của A Phủ. - Nghệ thuật kể chuyện: kể chuyện kết hợp nhiều điểm nhìn (bên ngoài, bên trong, xa, gần), nhà văn dần dần khám phá thế giới nội tâm sâu thẳm và của nhân vật A Phủ. *Nhận xét vẻ đẹp tâm hồn của người dân lao động Tây Bắc trong tác phẩm 0,5 Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài. - Vẻ đẹp tâm hồn của người dân Tây Bắc qua nhân vật Mị. Mị có những những vẻ đẹp tâm hồn rất quý: nhân ái, sức sống tiềm tàng .. -Vẻ đẹp tâm hồn của người dân Tây Bắc qua nhân vật A Phủ. A Phủ dũng cảm, nhân ái, bao dung, biết ơn. Trang 7
  8. - Người dân Tây Bắc; nhân ái, bao dung và có tinh thần đấu tranh chống cái ác, yêu tự do và khao khát sống. Họ đã tìm đến cách mạng và đi theo cách mạng để giải phóng quê hương, giải phóng bản thân khỏi ách thống trị của bọn chúa đất. - Tô Hoài thể hiện sự trân trọng trước vẻ đẹp tâm hồn của người dân lao động Tây Bắc. Ông viết về họ bằng sự am hiểu phong tục tập quán và lối trần thuật hấp dẫn. d.Chính tả, ngữ pháp 0,25 Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt. e.Sáng tạo 0,5 Thể hiện suy nghĩ sâu sắc; có ý tưởng riêng về vấn đề nghị luận; có cách lập luận, diễn đạt mới mẻ. TỔNG ĐIỂM 10 ----------------Hết------------------ Trang 8