Đề cương ôn tập nghỉ dịch Covid-19 môn Ngữ Văn Lớp 7 - Năm học 2019-2020 - Đỗ Ngọc Huỳnh
Bạn đang xem tài liệu "Đề cương ôn tập nghỉ dịch Covid-19 môn Ngữ Văn Lớp 7 - Năm học 2019-2020 - Đỗ Ngọc Huỳnh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
de_cuong_on_tap_nghi_dich_covid_19_mon_ngu_van_lop_7_nam_hoc.doc
Nội dung tài liệu: Đề cương ôn tập nghỉ dịch Covid-19 môn Ngữ Văn Lớp 7 - Năm học 2019-2020 - Đỗ Ngọc Huỳnh
- PHÒNG GD&ĐT TÂN SƠN TRƯỜNG THCS THU CÚC HỆ THỐNG KIẾN THỨC ÔN TẬP CHO HỌC SINH MÔN : NGỮ VĂN 7 (Áp dụng trong thời gian nghỉ học phòng tránh dịch bệnh Covd-19) - Tục ngữ về thiên nhiên và lao động sản xuất - Tìm hiểu chung về văn nghị luận. FacebookMessengerEmailTỤC NGỮ VỀ THIÊN NHIÊN VÀ LAO ĐỘNG SẢN XUẤT I. KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG 1. Tục ngữ là những câu nói dân gian ngắn gọn, ổn định, có nhịp điệu, hình ảnh, thể hiện những kinh nghiệm của nhân dân về mọi mặt (tự nhiên, lao động sản xuất, xã hội), được nhân dân vận dụng vào đời sống, suy nghĩ và lời ăn tiếng nói hằng ngày. 2. Bằng lối nói ngắn gọn, có vần, nhịp, giàu hình ảnh, những câu tục ngữ về thiên nhiên và lao động sản xuất đã phản ánh, truyền đạt những kinh nghiệm quý báu mà nhân dân đã quan sát, tích luỹ được trong lao động, đấu tranh với thiên nhiên. II. HƯỚNG DẪN ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN 1. HS đọc kĩ văn bản và các chú thích. 2. Có thể chia những câu tục ngữ thành hai nhóm : a) Nhóm câu tục ngữ về thiên nhiên: câu 1, 2, 3, 4. b) Nhóm câu tục ngữ về lao động sản xuất: câu 5, 6, 7, 8. 3. Phân tích nội dung từng câu tục ngữ: a) Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng, Ngày tháng mười chưa cười đã tối. - Nghĩa là tháng năm đêm ngắn, tháng mười ngày ngắn. Suy ra tháng năm ngày dài, tháng mười đêm dài.
- - Cơ sở thực tiễn là dựa trên quan sát, trải nghiệm thực tế. - Áp dụng kinh nghiệm này, người ta chú ý phân bố thời gian biểu làm việc cho phù hợp. Chú ý khẩn trương khi làm việc; bố trí giấc ngủ hợp lí,... - Câu tục ngữ giúp con người có ý thức về thời gian làm việc theo mùa vụ. a) Mau sao thì nắng, vắng sao thì mưa. - Nghĩa là khi trời nhiều (dày) sao sẽ nắng, khi trời không có hoặc ít (vắng) sao thì mưa. - Đây là kinh nghiệm để đoán mưa nắng, liên quan trực tiếp đến công việc sản xuất nông nghiệp và mùa màng. Do ít mây nên nhìn thấy nhiều sao, nhiều mây nên nhìn thấy ít sao. - Nhìn sao có thể đoán trước được thời tiết để sắp xếp công việc. c) Ráng mỡ gà, có nhà thì giữ. - Nghĩa là khi có ráng mỡ gà, sẽ có mưa bão lớn. Vì vậy phải chú ý chống bão cho nhà cửa. - Câu tục ngữ nhắc nhở ý thức phòng chống bão lụt. d) Tháng bảy kiến bò, chỉ lo lại lụt. - Vào tháng bảy, nếu thấy kiến di chuyển (bò) thì khả năng sắp có mưa lớn và lụt lội xảy ra. - Kiến là loại côn trùng nhạy cảm. Khi sắp có mưa lụt, chúng thường di chuyên tổ lên chỗ cao, vì vậy chúng bò ra khỏi tổ. (Trước trận mưa rào, Trần Đăng Khoa quan sát thấy : kiến/ hành quần/ đầy đường.) - Câu tục ngữ được đúc kết từ quan sát thực tế, nó nhắc nhở về ý thức phòng chống bão lụt, loại thiên tai thường gặp ở nước ta. e) Tấc đất tấc vàng. - Đất được coi quý ngang vàng. - Đất thường tính bằng đơn vị mẫu, sào, thước (diện tích). Tính tấc là muốn tính đơn vị nhỏ nhất (diện tích hay thể tích). Vàng là kim loại tính đếm bằng chỉ, bằng cây (dùng cân tiểu li để cân đong). Đất quý ngang vàng (Bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu). - Đất quý như vàng vì đất nuôi sống con người.
- - Người ta sử dụng câu tục ngữ này để đề cao giá trị của đất, phê phán việc lãng phí đất (bỏ ruộng hoang, sử dụng đất không hiệu quả). g) Nhất canh trì, nhị canh viên, tam canh điền. - Câu này nói về giá trị kinh tế khi khai thác ao, vườn, ruộng ; cũng có thể nói về sự công phu, khó khăn của việc khai thác các giá trị kinh tế ở các nơi đó. Ruộng thì để cấy lúa hay trồng cây lương thực, hoa màu. Vườn thì trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ. Ao thì thả cá, thả rau muống,... Kĩ thuật canh tác rất khác nhau. Người xưa đã tổng kết về giá trị kinh tế, cũng có thể kèm theo đó là độ khó của kĩ thuật. - Áp dụng câu tục ngữ để khai thác tốt điều kiện tự nhiên, làm ra nhiều của cải vật chất. h) Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống. - Câu tục ngữ nói về vai trò của các yếu tố trong sản xuất nông nghiệp (trồng lúa nước) của nhân dân ta. - Yếu tố nước phải là yếu tố quan trọng hàng đầu, nếu bị úng, hay bị hạn, mùa vụ có thể bị thất thu hoàn toàn. Sau đó là vai trò quan trọng của phân bón. Yếu tố cần cù, tích cực chỉ đóng vai trò thứ ba. Giống đóng vai trò thứ tư. Tuy nhiên, nếu ba yếu tố trên ngang nhau, ai có giống tốt, giống mới thì người đó sẽ thu hoạch được nhiều hơn. - Câu tục ngữ nhắc nhở người làm ruộng phải đầu tư vào tất cả các khâu, nhưng cũng phải chú ý ưu tiên, không tràn lan, nhất là khi khả năng đầu tư có hạn. i) Nhất thì, nhì thục. - Câu tục ngữ nêu vai trò của thời vụ (kịp thời) là hàng đầu. Sau đó mới là yếu tố làm đất kĩ, cẩn thận. Thời vụ liên quan đến thời tiết, nắng mưa. Nếu sớm quá, muộn quá, cây trồng sẽ bị ảnh hưỏng và có khi không cho sản phẩm. - Câu tục ngữ nhắc nhở vấn đề thời vụ và việc chuẩn bị đất kĩ trong canh tác. 4. Minh hoạ đặc điểm hình thức của tục ngữ : - Ngắn gọn : Mỗi câu tục ngữ chỉ có một số lượng từ không nhiều. Có câu rất ngắn như câu : Tấc đất, tấc vàng; Nhất thì, nhì thục. - Thường có vần, nhất là vần lưng. Hầu như câu tục ngữ nào cũng có vần. Ví dụ : nhất thì, nhì thục ; Mau sao thì nắng, vắng sao thì mưa ; Ráng mỡ gà, có nhà thì giữ.
- - Các vế đối xứng nhau cả về hình thức và nội dung. Ví dụ như 2 vế của câu 1, câu 2, câu 3. - Lập luận chặt chẽ, giàu hình ảnh. Lời trong tục ngữ cô đọng, mỗi lời như dồn nén, không có từ thừa. Các hình ảnh ví von như chưa nằm, chưa cười, các hình ảnh thiên nhiên như sao, ráng, đất, vàng,... III - HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP Kinh nghiệm của nhân dân về các hiện tượng mưa, nắng, bão, lụt : - Chớp đông nhay nháy, gà gáy thì mưa. - Quạ tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa. - Cơn đằng tây, mưa dây bão giật. - Cầu vồng mống cụt, không lụt cũng mưa. FacebookMessengerEmailTÌM HIỂU CHUNG VỀ VĂN NGHỊ LUẬN I - KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG 1. Văn nghị luận là văn được viết ra nhằm xác lập cho người đọc, người nghe một tư tưởng nào đó. Muốn thế, văn nghị luận phải có luận điểm rõ ràng, có lí lẽ, dẫn chứng thuyết phục. 2. Những tư tưởng, quan điểm trong bài văn nghị luận phải hướng tới giải quyết những vấn đề có thực trong đời sống thì mới có ý nghĩa. II - HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU BÀI 1. Nhu cầu nghị luận a) Trong đời sống, những vấn đề và câu hỏi như trong mục I.l.a) SGK là rất hay gặp. Những câu hỏi và vấn đề tương tự như: Tại sao phải học suốt đời ? Thế nào là người con ngoan, trò giỏi ? Người bạn tốt là người như thế nào ? Tại sao phải trồng cây gây rừng ? Vì sao cần phải bảo vệ môi trường ?... b) Gặp vấn đề và câu hỏi loại đó, khó có thể trả lời bằng kiểu văn bản tự sự (kể chuyện), miêu tả hay biểu cảm. Muốn trả lời các câu hỏi như vậy, người ta buộc phải dùng lí lẽ để giải thích, thuyết phục, phải sử dụng các khái niệm, dẫn chứng.
- c) Để trả lời những câu hỏi như thế, trên báo chí, đài phát thanh và truyền hình, ta thường gặp văn bản nghị luận. Những văn bản đó là : chống buôn lậu; đảm bảo an toàn giao thông; bảo vệ rừng, chống lâm tặc,... 2. Khái niệm văn bản nghị luận a) Bác Hồ viết bài Chống nạn thất học nhằm kêu gọi mọi người đi học để nâng cao dân trí. Để thực hiện mục đích ấy, bài viết nêu ra ý kiến : Nhân dân ta phần lớn thất học do chính sách ngu dân của Pháp. Bây giờ phải nâng cao dân trí. Muốn thế, mọi người phải đi học. Muốn giúp mọi người đi học, phải vận động những người đã biết chữ dạy cho người chưa biết. Luận điểm trong bài là : "Một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc trong lúc này là nâng cao dân trí" và "Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi và bổn phận của mình... trước hết phải biết đọc, biết viết chữ Quốc ngữ". b) Để ý kiến có sức thuyết phục, bài viết đã nêu lên các lí lẽ : - Tình trạng thất học, lạc hậu của 95% dân số. - Điều kiện để người dân tham gia xây dựng nước nhà. - Khả năng dạy, học chữ Quốc ngữ cho mọi người là to lớn, việc chống thất học có thể thực hiện được. c) Tác giả cũng có thể thực hiện mục đích của mình bằng văn kể chuyện, miêu tả hay biểu cảm, nhưng cách làm sẽ khó hơn gấp nhiều lần và hiệu quả sẽ không như dùng văn nghị luận. III - HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP 1. a) Cần tạo ra thói quen tốt trong đời sống xã hội là bài nghị luận, vì nó đặt vấn đề phải tạo thói quen tốt trong xã hội và phê phán thói quen xấu. b) Tác giả đề xuất ý kiến tạo ra thói quen tốt, phê phán thói quen xấu và kêu gọi mọi người tạo thói quen tốt, chống thói quen xấu để tạo ra nếp sống đẹp, văn minh cho xã hội. Nhan đề bài viết và ba câu trong đoạn kết luận thể hiện ý kiến đó. Để thuyết phục người đọc, tác giả nêu ra lí lẽ và dẫn chứng về thói quen xấu : hút thuốc, gạt tàn bừa bãi ; vứt rác gây mất vệ sinh ; vứt rác gây tai nạn nguy hiểm. c) Bài văn nghị luận này đặt vấn đề thường gặp trong thực tế. Đây là vấn đề xã hội. Tạo thói quen tốt, chống thói quen xấu là nhằm tạo ra nếp sống đẹp, văn minh cho xã hội.
- 2. Bài văn trên chia làm 3 phần : Hai câu đầu tiên, Mở bài, nói về thói quen tốt. Đoạn tiếp theo, Thân bài, nói về các thói quen xấu. Ba câu cuối cùng, Kết bài, kêu gọi xây dựng thói quen tốt từ mỗi người, mỗi gia đình. 3. Em hãy sưu tầm hai đoạn văn nghị luận trong báo, trong SGK. 4. Bài văn Hai biển hồ là văn bản nghị luận. Việc kể chuyện hai biển hồ chỉ là phương tiện để đi đến vấn đề tư tưởng : cần phải sống sẻ chia, hoà hợp thì mới có ích cho mình và cho mọi người ; nếu không sẽ chết dần chết mòn như biển Chết. - Tục ngữ về con người và xã hội - Rút gọn câu - Đặc điểm chung của văn nghị luận. - Đề văn nghị luận và việc lập ý cho bài văn nghị luận TỤC NGỮ VỀ CON NGƯỜI VÀ XĂ HỘI I - KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG 1. Về khái niệm thể loại, xem trong bài Tục ngữ về thiên nhiên và lao động sản xuất. 2. Những câu tuc ngữ viết về con người và xã hội thường rất giàu hình ảnh so sánh, ẩn dụ, hàm súc về nội dung biểu hiện. Những câu tục ngữ này chú trọng tôn vinh những giá trị cao đẹp của con người, đưa ra những lời nhận xét, khuyên răn về những phẩm chất và lối sống mà con người cần phải có trong cuộc sống. Nội dung các câu tục ngữ chủ yếu chỉ quan hệ giữa người với người trong xã hội thường được tuân theo một chuẩn mực đạo đức luân lí nhất định. Chuẩn mực đạo đức đó đã được cộng đồng chấp nhận và được người dân lao động sử dụng như một nguyên tắc sinh sống và giao tiếp hằng ngày. II - HƯỚNG DẪN ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN 1. Đọc kĩ văn bản và chú thích các từ ngữ mặt người và không tày. 2. Phân tích từng câu tục ngữ (sau khi phân tích, có thể kẻ bảng để ghi nhớ): Câu Nghĩa của câu tục ngữ Giá trị của kinh nghiệm mà câu tục ngữ thể hiện
- 1 Con người quý hơn tiền bạc. Đề cao giá trị của con người. 2 Răng và tóc là các phần thể hiện Phải biết chăm chút từng yếu tố thể hình thức, tính nết con người. hiện hình thức, tính nết tốt đẹp của con người. 3 Dù khó khăn về vật chất, vẫn phải Dù nghèo khó vẫn phải biệt giữ gìn trong sạch, không làm điều xấu. nhân cách tốt đẹp. 4 Cần phải học cách ăn, nói,... đúng Cần phải học các hành vi ứng xử chuẩn mực. văn hoá. 5 Muốn làm được việc gì cũng cần Đề cao vị thế của người thầy. có người hướng dẫn. 6 Học thầy không bằng học bạn. Đề cao việc học bạn. 7 Khuyên con người biết yêu người Đề cao cách ứng xử nhân văn. khác như chính bản thân mình. 8 Được hưởng thành quả, phải nhớ Phải biết ơn với người có công lao ơn người tạo ra thành quả đó. giúp đỡ, gây dựng, tạo nên thành quả. 9 Việc lớn, việc khó không thể do Khẳng định sức mạnh của tình đoàn một người làm được; mà phải cần kết. nhiều người hợp sức. 3. Hai câu tục ngữ nêu mối quan hệ thầy trò, bình luận, đánh giá vai trò của người thầy và xác định việc tiếp thu học hỏi từ bạn bè được nhân dân đúc kết: - Không thầy đố mày làm nên. - Học thầy không tày học bạn. Mới đọc tưởng chừng hai câu tục ngữ đối lập nhau nhưng thực chất lại bổ sung chặt chẽ cho nhau, cả hai câu, câu nào cũng đề cao việc học, chỉ có học tập, biết tìm thầy mà học thì con người mới có thể thành tài, có khả năng đóng góp cho xã hội và sống mới có ý nghĩa. 4. Các giá trị nổi bật của các đặc điểm trong tục ngữ: a) Diễn đạt bằng so sánh :
- - Một mặt người bằng mười mặt của. - Học thầy không tày học bạn. - Thương người như thể thương thân. Phép so sánh được sử dụng rất đa dạng, linh hoạt. Trong câu thứ nhất, người - mười vần và đối nhau qua từ so sánh bằng. Trong câu thứ hai cũng diễn đạt quan hệ đó, từ so sánh tày, vần với thầy trong vế đưa ra so sánh. Câu thứ ba dùng từ so sánh như. Phép so sánh có tác dụng làm các câu tục ngữ dễ thuộc, dễ nhớ, chuyển tải được ý tưởng một cách dễ dàng. b) Diễn đạt bằng hình ảnh ẩn dụ : - Ăn quả nhớ kẻ trồng cây. - Một cây làm chẳng nên non Ba cây chụm lại nên hòn núi cao. Hình ảnh ẩn dụ trong câu thứ nhất : từ quả - cây nghĩa đen chuyển sang thành quả và người có công giúp đỡ, sinh thành... Tương tự như vậy, cây và non chuyển sang nghĩa một cá nhân và việc lớn, việc khó... Phép ẩn dụ có tác dụng mở rộng nghĩa, diễn đạt uyển chuyển các ý tưởng cần nêu. c) Dùng từ và câu có nhiều nghĩa : - Cái răng, cái tóc : không những chỉ răng, tóc cụ thể, mà còn chỉ các yếu tố hình thức nói chung - là những yếu tố nói lên hình thức, nhân cách con người. - Đói, rách : không những chỉ đói và rách mà còn chỉ khó khăn, thiếu thốn nói chung ; sạch, thơm : chỉ việc giữ gìn tư cách, nhân phẩm tốt đẹp. - Ăn, nói, gói, mở... : ngoài nghĩa đen còn chỉ việc học cách giao tiếp, ứng xử nói chung. - Quả, kẻ trồng cây, cây, non... : cũng có nhiều nghĩa, như đã nói trong câu 3. Các cách dùng từ này tạo ra các lớp nghĩa phong phú, thích ứng với nhiều tình huống diễn đạt và hoàn cảnh giao tiếp. III - HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP a) Một số câu tục ngữ đồng nghĩa : - Máu chảy ruột mềm. - Chết trong hơn sống đục. - Uống nước nhớ nguồn. b) Một số câu tục ngữ trái nghĩa : - Của trọng hơn người. - Ăn cháo đá bát. - Được chim bẻ ná, được cá quên nơm.
- RÚT GỌN CÂU I - KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG 1. Rút gọn câu Rút gọn câu là lược bỏ một số thành phần câu khi nói hoặc viết. Việc rút gọn câu không thể là một việc làm tuỳ tiện. Muốn biết một câu nào đó có thể rút gọn được hay không, các em cần phải dựa vào hoàn cảnh nói năng cụ thể. Trong trường hợp này có thể rút gọn chủ ngữ, nhưng trong trường hợp khác lại chỉ rút gọn được vị ngữ... Việc lược bỏ như vậy cần phải được cân nhắc và quyết định cho từng trường hợp riêng biệt. 2. Tác dụng của việc rút gọn câu - Làm cho câu văn trở nên ngắn gọn hơn. - Nội dung thông báo nổi rõ hơn, giúp người đọc, người nghe nhận ra thông tin chính nhanh hơn. - Tránh được sự trùng lặp những từ ngữ không cần thiết, tránh được việc thông báo những nội dung phụ, không quan trọng trong hoạt động giao tiếp. 3. Cách rút gọn câu Để rút gọn câu, cần phải đảm bảo nguyên tắc : - Không làm cho người đọc, người nghe hiểu sai, hoặc hiểu không đầy đủ nội dung câu nói so với câu khi chưa rút gọn. - Không biến câu văn thành một câu cộc lốc, khiếm nhã. - Có thể rút gọn bất kì thành phần nào của câu, nhưng khi dựa vào hoàn cảnh cụ thể, người đọc, người nghe vẫn dễ dàng khôi phục lại thành phần bị rút gọn một cách đầy đủ và chính xác. Chính vì vậy, câu rút gọn có thể là câu không có chủ ngữ, hoặc không có vị ngữ, hoặc không có cả chủ ngữ lẫn vị ngữ, nhưng đây không phải là những câu sai ngữ pháp, mà là câu rút gọn. II - HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP 1. Bài tập này yêu cầu HS làm rõ ba nội dung : - Xác định được đâu là câu rút gọn trong số những câu đã cho trong bài tập. - Chỉ ra thành phần đã bị rút gọn trong từng câu. - Nêu tác dụng của các câu rút gọn đó. Các em lần lượt giải quyết từng nội dung này. a) Để tìm được câu rút gọn, cần lưu ý một số điểm sau :
- - Cả bốn câu đưa ra trong bài tập này đều là tục ngữ. Một trong những đặc điểm của tục ngữ là đúc kết kinh nghiệm sản xuất, kinh nghiệm ứng xử, vì thế trong cấu tạo câu, tục ngữ thường lược bớt chủ ngữ. - Dựa vào cấu tạo của từng câu, loại trừ những câu có đủ chủ ngữ và vị ngữ ra khỏi loại câu rút gọn. Các câu còn lại, nếu không có chủ ngữ thì đó chính là những câu rút gọn. Những câu rút gọn là : - Ăn quả nhớ kẻ trồng cây. - Nuôi lợn ăn cơm nằm, nuôi tằm ăn cơm đứng. b) Hai câu trên là hai câu rút gọn thành phần chủ ngữ. Như đã giải thích ở phần trên, tục ngữ mang tính chất đúc rút kinh nghiệm sản xuất, kinh nghiệm ứng xử của quần chúng nhân dân nên có thể coi chủ ngữ bị rút gọn ở đây là : chúng ta, hoặc người, hoặc ai, hoặc kẻ,... Khi khôi phục lại các thành phần bị rút gọn này, sẽ được những câu đầy đủ như sau : - Kẻ ăn quả nhớ kẻ trồng cây. - Người nuôi lợn ăn cơm nằm, người nuôi tằm ăn cơm đứng. c) Rút gọn câu như vậy có tác dụng : - Nhấn mạnh vào được thông tin chính. - Các câu tục ngữ trở nên ngắn gọn, súc tích hơn. 2. Bài tập này cũng nêu ba yêu cầu như bài tập trên : - Xác định câu rút gọn có trong bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan (là một bài thơ trữ tình, bộc lộ tâm trạng của tác giả) và bài ca dao. - Khôi phục lại thành phần đã bị rút gọn trong từng câu. - Giải thích vì sao trong thơ, ca dao lại thường có nhiều câu rút gọn. Các em lần lượt giải quyết từng nội dung này. a) Các em sẽ xác định được những dòng thơ sử dụng câu rút gọn là : - Trong bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan : + Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà. + Dừng chân đứng lại, trời, non, nước. - Trong bài ca dao : + Đồn rằng quan tướng có danh. + Đánh giặc thì chạy trước tiên, Xông vào trận tiền cởi khố giặc ra. b) Khôi phục lại các thành phần bị rút gọn, ta sẽ được những câu như sau :
- - Ta (tức Bà Huyện Thanh Quan) bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà. - Ta dừng chân đứng lại, trời, non, nước. - Người ta đồn rằng quan tướng có danh. - Quan tướng đánh giặc thì chạy trước tiên, Quan tướng xông vào trận tiền cởi khố giặc ra. c) Trong thơ và ca dao thường có nhiều câu rút gọn như vậy vì: - Bài thơ thất ngôn bát cú (phải đảm bảo 7 tiếng một dòng) hoặc bài ca dao làm theo thể lục bát (một dòng 6 tiếng, một dòng 8 tiếng đi với nhau thành từng cặp) có quy định chặt chẽ về số tiếng trong một dòng thơ. - Ngôn ngữ trong thơ cần phải súc tích ; từ ngữ phong phú, chau chuốt; cấu tạo câu cần đa dạng, nhiều vẻ. 3. Cậu bé và người khách trong câu chuyện hiểu lầm nhau vì: - Cậu bé dùng quá nhiều câu rút gọn (liên tục ba câu rút gọn liền). - Hoàn cảnh nói chuyện không giúp cho ông khách hiểu được phần bị rút gọn là gì. - Mỗi người hiểu phần rút gọn theo một cách. - Từ mất trong lời nói của cậu bé có thể hiểu theo hai nghĩa : + Mất: như trong cách nói mất tiền, mất ví,... + Mất (chết) : như trong cách nói bố mất, bà mất,... Để hiểu rõ hơn điều này, hãy so sánh : Cậu bé : nghĩ đến tờ giấy bố viết Người khách : nghĩ đến ông bố cậu bé - (Tờ giấy) mất rồi. - (Ông bố) mất rồi. - (Tờ giấy) mất tối hôm qua. - (Ồng bố) mất tối hôm qua. - (Tờ giấy) mất vì cháy. - (Ông bố) mất vì cháy. 4. Chi tiết có tác dụng gây cười, phê phán là những chi tiết về sự trả lời gọn lỏn, cộc lốc của anh chàng tham ăn khiến cho mọi người : - Không ai hiểu được lời nói của anh ta một cách rõ ràng, đầy đủ. - Nhận ra anh ta là người ăn nói thô lỗ, khác hẳn với những lời nói bình thường của người khác. - Thấy anh ta là người vì miếng ăn mà trở nên mất nhân cách.
- ĐẶC ĐIỂM CỦA VĂN BẢN NGHỊ LUẬN I - KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG 1. Luận điểm là ý kiến thể hiện tư tưởng, quan điểm trong bài văn nghị luận. 2. Luận cứ là những lí lẽ, dẫn chứng làm cơ sở cho luận điểm, dẫn đến luận điểm như là kết luận của những lí lẽ và dẫn chứng đó. Luận cứ trả lời các câu hỏi : Vì sao phải nêu ra luận điểm ? Nêu ra để làm gì ? Luận điểm ấy có đáng tin cậy không ? 3. Lập luận là cách lựa chọn, sắp xếp, trình bày luận cứ sao cho chúng làm cơ sở vững chắc cho luận điểm. II - HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU BÀI 1. Trong văn bản Chống nạn thất học, luận điểm chính của bài viết là : Chống nạn thất học. Luận điểm đó được nêu ra dưới dạng một khẩu hiệu (nhan đề bài viết), đồng thời được nêu đầy đủ trong câu : "Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mớí để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ Quốc ngữ". Luận điểm chính đó được triển khai thành các luận điểm cụ thể : - Những người đã biết chữ hãy dạy cho những người chưa biết chữ. - Những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết. - Phụ nữ càng cần phải học. Luận điểm đóng vai trò thể hiện quan điểm của người viết. Muốn có sức thuyết phục thì luận điểm phải rõ ràng, được trình bày theo lô-gíc, trình tự hợp lí, mạch lạc. 2. Những luận cứ trong bài Chống nạn thất học là: - Chính sách ngu dân của thực dân Pháp làm cho hầu hết người Việt Nam bị mù chữ, nước Việt Nam không tiến bộ được. - Nay chúng ta đã giành được độc lập, cần phải nhanh chóng nâng cao dân trí để xây dựng đất nước. Những luận cứ trên đóng vai trò làm sáng tỏ luận điểm, ở đây là trả lời câu hỏi : Vì sao phải chống nạn thất học ? Triển khai các luận cứ đó, tác giả đưa ra một loạt ví dụ (lí lẽ) để trả lời câu hỏi : Làm cách nào để chống nạn thất học ? Muốn có sức thuyết phục thì luận cứ phải chặt chẽ, sinh động. 3. Trình tự lập luận của văn bản Chống nạn thất học là:
- - Nêu lí do vì sao phải chống nạn thất học ; - Chống thất học để làm gì ; - Chống thất học bằng cách nào. III - HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP Trong bài Cần tạo ra thói quen tốt trong đời sống xã hội: - Luận điểm của bài là : "Cần tạo ra thói quen tôat trong đời sôang xã hội". - Luận cứ : Có thói quen tốt và có thói quen xấu. + Thói quen tốt là : luôn dậy sớm, luôn đúng hẹn, giữ lời hứa, luôn đọc sách,... + Thói quen xấu là : hút thuốc lá, mất trật tự, vứt rác bừa bãi,... - Lập luận : Từ việc phân tích tác hại của thói quen xấu, tác giả nhắc nhở mọi người hãy tạo ra thói quen tốt để tạo ra nếp sống văn minh cho xã hội. ĐỀ VĂN NGHỊ LUẬN VÀ VIỆC LẬP Ý CHO BÀI VĂN NGHỊ LUẬN II - KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG 1. Đề văn nghị luận Trong nhà trường phổ thông, khi làm văn, chúng ta có thể gặp nhiều loại đề bài khác nhau. Loại đề bài nêu lên một vấn đề và đòi hỏi người viết phải bày tỏ ý kiến của mình về vấn đề đó được gọi là đề văn nghị luận. 2. Yêu cầu của viêc tìm hiểu đề văn nghị luận Vấn đề nêu lên trong một đề văn nghị luận rất khác nhau. Có thể là ngợi ca, cũng có thể là phê phán hoặc khuyên can... Vì thế, để làm tốt bài văn nghị luận, cần phải tìm hiểu kĩ đề bài để chọn lựa một phương pháp làm bài thích hợp. Khi tìm hiểu đề bài, cần phải xác định : - Đúng vấn đề mà đề bài yêu cầu chúng ta bàn bạc, nêu rõ ý kiến của riêng mình. Có thể coi đây là việc xác định nội dung viết. - Rõ phạm vi của vấn đề cần bàn bạc rộng hẹp, nông sâu đến mức nào. Đây chính là việc xác định giới hạn của vấn đề nêu ra trong đề bài. - Cụ thể tính chất của bài làm văn là giải thích, chứng minh hay bình luận. Đây là việc xác định cách thức trình bày bài viết. 3. Lập ý cho bài văn nghị luận Lập ý cho bài văn là xác định những nội dung chính cho một bài viết. Bài văn nào cũng đòi hỏi phải có nội dung. Trong bài văn nghị luận, nội dung được tạo thành bởi : - Luận điểm : là những ý kiến mà người viết đưa ra để bày tỏ quan điểm của mình về vấn đề được bàn bạc, trao đổi.
- - Luận cứ: là những dẫn chứng, những con số, những sự kiện,... nhằm cụ thể hoá, làm sáng rõ cho luận điểm. - Lập luận : là việc liên kết các luận điểm, luận cứ thành một chuỗi mạch lạc, liên tục nhằm thuyết phục người đọc tín vào ý kiến của người viết. Bởi vậy, lập ý cho bài văn nghị luận là việc dựa vào đề bài để xác định các luận điểm, luận cứ và cách lập luận sao cho phù hợp với bài văn đó. II - HƯỚNG DẪN TÌM HlỂU BÀI 1. Tìm hiểu đề văn nghị luận • Nội dung và tính chất của đề văn nghị luận a) Tất cả 11 đề văn nêu trong phần I.1. của SGK đều có thể xem là đầu đề (hoặc đề bài) của một văn bản (một bài viết), sở dĩ như vậy là vì tất cả các đầu đề đó đều nêu lên một vấn đề để người viết (hoặc người nói) bàn bạc. b) Căn cứ để nhận ra các đề đó là đề văn nghị luận là : - Có nêu vấn đề để trao đổi, bàn bạc. - Người viết phải có ý kiến riêng, phải có chủ kiến của mình đối với vấn đề được nêu ra đó. c) Tính chất của đề văn có ý nghĩa đối với việc làm văn : - Biết bàn bạc đúng vấn đề được nêu ra trong đề bài. - Phải có phương pháp làm bài phù hợp để người đọc tín vào những ý kiến mà mình trình bày trong bài viết hoặc bài nói. • Tìm hiểu đề văn nghị luận a) Đề bài : Chớ nên tự phụ. - Đề bài nêu vấn đề : không nên tự phụ, không nên vỗ ngực đánh giá cao bản thân mình. - Đối tượng và phạm vi nghị luận : bàn về việc không nên tự phụ, không nên tự cao tự đại trong cuộc sống. - Khuynh hướng tư tưởng của đề bài : khuyên can, nhắc nhở mọi người không nên tự phụ. - Đề bài này đòi hỏi người viết phải có thái độ : phê phán tư tưởng tự phụ và khuyên nhủ mọi người cần phải biết khiêm tốn học hỏi mới có thể tiến bộ được. b) Từ việc tìm hiểu đề trên, ta thấy, trước một đề văn, muốn làm tốt cần phải : - Xác định đúng vấn đề và phạm vi của vấn đề mà đề bài yêu cầu chúng ta bàn bạc và bày tỏ ý kiến của mình. - Xác định đúng tính chất của đề bài : ngợi ca, phê phán hay khuyên nhủ để có thể lựa chọn được cách viết thích hợp.
- 2. Lập ý cho bài văn nghị luận Đề bài : Chớ nên tự phụ. a) Xác lập luận điểm : Chớ nên tự phụ là một ý kiến hoàn toàn đúng, vì tự phụ là một thói xấu của con người, ai cũng cần tránh. Bên cạnh luận điểm chính này, ta có thể nêu lên một số luận điểm phụ : - Tự phụ làm cho con người trở nên kiêu ngạo. - Tự phụ là thiếu tôn trọng người khác. - Tự phụ không giúp cho con người tiến bộ. b) Tìm luận cứ: Tự phụ là một thói xấu bởi lẽ : - Tự đánh giá quá cao về bản thân mình và đánh giá quá thấp những người khác. - Khiến mọi người xa lánh, không muốn gần gũi, gắn bó. - Vì thế không hợp sức được với người khác trong công việc. Sau khi nêu những luận cứ này, các em có thể dẫn những dẫn chứng trong học tập, trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày để minh hoạ. c) Xây dựng lập luận : Để bày tỏ việc tán thành ý kiến nêu trong đề bài Chớ nên tự phụ, có thể lập luận theo trật tự sau : - Em hiểu thế nào là tự phụ ? - Những biểu hiện cụ thể của tự phụ. - Tác hại của thói tự phụ. - Liên hệ với đời sống. - Khẳng định : tự phụ là thói xấu, cần phải tránh. III - HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP Tììm hiểu đề và lập ý cho đề bài : Sách là người bạn.lớn của con người. a) Mở bài : Sách là món ăn tinh thần không thể thiếu. Cơm ăn, nước uống giúp ta lớn lên về thể chất thì sách vở nuôi dưỡng ta, giúp ta lớn lên về trí tuệ, về tâm hồn. b) Thân bài : - Sách giúp ta hiểu biết và khám phá : + Sự bí ẩn của thế giới tự nhiên. + Sự phong phú, tinh tế của đời sống tâm hồn con người. - Sách giúp ta tích luỹ :
- + Kinh nghiệm sống. + Kinh nghiệm đối nhân xử thế. - Sách giúp ta vượt qua : + Thời gian để hiểu về quá khứ, biết đến hiện tại và dự đoán được tương lai. + Không gian đến với tất cả những mảnh đất khác nhau trên thế giới. - Sách như người bạn đem lại cho ta : + Niềm vui của sự hiểu biết và khám phá. + Chia sẻ nỗi buồn bằng những lời thủ thỉ, tâm sự. c) Kết bài: Sách không thể thiếu trong suốt cả cuộc đời, sách đem đến cho ta niềm vui, sách thủ thỉ tâm tình với ta lúc giận hờn, buồn tủi, vì thế sách là một người bạn lớn của con người. Thu Cúc, ngày 24 tháng 3 năm 2020 Giáo viên bộ môn Đỗ Ngọc Huỳnh

