Đề cương ôn tập nghỉ dịch Covid-19 môn Ngữ Văn Lớp 6 - Năm học 2019-2020 - Nguyễn Thị Kim Hương

doc 18 trang cattuong 16/04/2026 1650
Bạn đang xem tài liệu "Đề cương ôn tập nghỉ dịch Covid-19 môn Ngữ Văn Lớp 6 - Năm học 2019-2020 - Nguyễn Thị Kim Hương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docde_cuong_on_tap_nghi_dich_covid_19_mon_ngu_van_lop_6_nam_hoc.doc

Nội dung tài liệu: Đề cương ôn tập nghỉ dịch Covid-19 môn Ngữ Văn Lớp 6 - Năm học 2019-2020 - Nguyễn Thị Kim Hương

  1. PHÒNG GD&ĐT TÂN SƠN TRƯỜNG THCS THU CÚC HỆ THỐNG KIẾN THỨC ÔN TẬP CHO HỌC SINH MÔN : NGỮ VĂN 6 (Áp dụng trong thời gian nghỉ học phòng tránh dịch bệnh Covd-19) - Bài học đường đời đầu tiên - Phó Từ - Tìm hiểu chung về văn miêu tả BÀI HỌC ĐƯỜNG ĐỜI ĐẦU TIÊN (Trích Dế Mèn phiêu lưu kí – Tô Hoài) I. KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG 1. Tóm tắt đoạn trích Dế Mèn là một chàng dế thanh niên cường tráng, tính tình kiêu căng, xốc nổi. Hàng xóm có chàng Dế Choắt ốm yếu, gầy gò. Dế Mèn đã coi thường Dế Choắt, không giúp đỡ Dế Choắt, lại còn bày trò nghịch ranh trêu chị Cốc. Dế Choắt bị chết oan vì trò nghịch đó. Trước khi chết, Dế Choắt khuyên nhủ Dế Mèn. Dế Mèn vô cùng ân hận và cảm kích, suy nghĩ về bài học đường đời đầu tiên. 2. Đoạn trích miêu tả Dế Mèn có vẻ đẹp cường tráng, hùng dũng của con nhà võ nhưng tính nết kiêu căng, xốc nổi. VI tính kiêu căng xốc nổi đó, Dế Mèn đã gây ra cái chết của Dế Choắt và ân hận suy ngẫm về bài học đường đời. Đoạn trích cũng thể hiện tài quan sát và miêu tả tinh tế của nhà văn Tô Hoài. Lời kể ở ngôi thứ nhất nhưng biến hoá sinh động, hấp dẫn. Ngôn ngữ miêu tả và so sánh đặc sắc, diễn tả chính xác đối tượng miêu tả. II. HƯỚNG DẪN ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN 1. Có thể kể tóm tắt như gợi ý ở phần kiến thức cơ bản. Cũng có thể tóm tắt ở mức độ chi tiết hơn, có những nhận xét của Dế Mèn về chỗ ở của Dế Choắt, lời Dế Choắt xin giúp đỡ và sự từ chối của Dế Mèn, lời hát trêu chị Cốc... a) Truyện được kể bằng lời của nhân vật Dế Mèn. b) Bài văn có thể chia làm hai đoạn : Đoạn một từ đầu đến sắp đứng đầu thiên hạ rồi : Giới thiêu vẻ đẹp và tính tình của Dế Mèn. Đoạn hai tiếp theo đến hết : Câu chuyện về bài học đường đời đầu tiên của Dế Mèn. 2. a) Các chi tiết miêu tả ngoại hình và hành động của Dế Mèn : Ngoại hình :
  2. + Đôi càng mẫm bóng. + Những cái vuốt ở chân, ở khoeo cứ cứng dần và nhọn hoắt. + Đôi cánh..., bây giờ thành cái áo dài kín xuống tận chấm đuôi. + Đầu... to ra và nổi từng tảng, rất bướng. + Hai cái răng đen nhánh lúc nào cũng nhai ngoàm ngoạp như hai lưỡi liềm máy làm việc. + Sợi râu ... dài và uốn cong một vẻ rất đỗi hùng dũng. Hành động của Dế Mèn : + Muốn thử sự lợi hại của những chiếc vuốt, co cẳng lên, đạp phanh phách vào các ngọn cỏ. + Chốc chốc lại trịnh trọng và khoan thai đưa cả hai chân lên vuốt râu. + Đi đứng oai vệ. + Cà khịa với tất cả mọi bà con trong xóm (quát các chị Cào Cào, đá anh Gọng Vó,...). Cách miêu tả của tác giả là chọn lọc những chi tiết tiêu biểu làm nổi bật ngoại hình của một chú dế thanh niên cường tráng. Tác giả vừa miêu tả ngoại hình kết hợp với miêu tả hành động để làm bộc lộ tính cách của Dế Mèn : kiêu căng, xốc nổi, điệu đàng. b) Một số tính từ miêu tả hình dáng và tính cách của Dế Mèn. Tính từ miêu tả hình dáng : cường tráng, mẫm bóng, nhọn hoắt, hủn hoẳn, giòn giã, bóng mỡ, đen nhánh, ngoàm ngoạp... Tính từ miêu tả tính cách : bướng, hãnh diện, trịnh trọng, khoan thai, oai vệ, tợn, giỏi, ghê gớm... Có thể thay thế một số từ như : Đôi càng mẫm bóng : đôi càng mập bóng, đôi càng to bóng,... Ngắn hủn hoẳn : ngắn củn, ngắn tủn, ngắn cũn cỡn,... Đi đứng oai vệ : đi đứng chững chạc, đi đứng đàng hoàng, đi đứng oai lắm,... Rõ ràng những lời thay thế không diễn tả được ý nghĩa như những từ tác giả đã dùng. Tác giả dùng từ rất chính xác và tinh tế. c) Tính cách của Dế Mèn trong đoạn văn : Qua những tính từ chỉ tính cách và một số hành động của Dế Mèn, có thể nói Dế Mèn là chàng dế cường tráng, trẻ trung nhưng điệu đàng, kiêu căng, xốc nổi, hung hăng, ngộ nhận về sức mạnh của mình. 3. Thái độ của Dế Mèn đối với Dế Choắt là thái độ kẻ cả, trịch thượng, coi thường. Điều đó thể hiện qua cách xưng hộ : đặt tên bạn là Dế Choắt, ví von so sánh như gã nghiện thuốc phiện, xưng hô chú mày, điệu bộ khinh khỉnh, giọng điệu bề trên, dạy bảo. Dế Mèn còn tỏ ra ích kỉ, không cho Dế Choắt thông ngách sang, lại còn mắng : “Đào tổ nông thì cho chết !”.
  3. 4. Khi trêu chị Cốc, Dế Mèn hung hăng, kiêu ngạo khồng hề biết sợ : Sợ gì ? Mày bảo tao sợ cái gì ? Mày bảo tao còn biết sợ ai hơn tao nữa ! Hát trêu xong, Dế Mèn vẫn tự đắc, thách thức : Mày tức thì mày cứ tức, mày ghè vỡ đầu mày ra cho nhỏ đi, nhỏ đến đâu thì mày cũng không chui nổi vào tổ tao đâu ! Nhưng chứng kiến chị Cốc đánh Choắt, Dế Mèn khiếp hãi “nằm im thin thít”. Biết chắc chị Cốc đi rồi, mới dám “mon men bò lên”. Từ hung hăng, kiêu ngạo, Dế Mèn trở nên sợ hãi, nhút nhát. Bài học đường đời đầu tiên Dế Mèn rút ra chính là sự trả giá cho những hành động ngông cuồng thiếu suy nghĩ. Bài học ấy thể hiện qua lời khuyên chân tình của Dế Choắt : ở đời mà có thói hung hăng bậy bạ, có óc mà không biết nghĩ, sớm muộn rồi cũng mang vạ vào mình đấy. 5. Hình ảnh những con vật được miêu tả trong truyện ngắn rất giống với chúng trong thực tế. Dế Mèn và Dế Choắt, mỗi con vật một vẻ. Một bên cường tráng, khoẻ mạnh, một bên bệnh tật, ốm yếu. Những đặc điểm của con người như suy nghĩ, đi đứng, nói năng được gán cho những con vật. Em hãy kể tên tác phẩm viết về loài vật có cách viết tương tự như Dế Mèn phiêu lưu kí. III. HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP 1. Tâm trạng của Dế Mèn lúc này là thương cảm Dế Choắt. Nếu trước đó Dế Mèn coi thường, dửng dưng, không quan tâm gì đến Dế Choắt, thì lúc này Dế Mèn thương bạn vô cùng. Càng thương Dế Choắt, Dế Mèn càng ăn năn, hối hận về việc làm dại dột của mình. Chỉ vì muốn lên mặt, ra oai mà Dế Mèn đã bất chấp lời can ngăn của Dế Choắt, trêu chị Cốc dẫn đến cái chết thảm thương của Dế Choắt, và suýt nữa thiệt mạng : nếu không nhanh chân chạy vào hang thì tôi cũng chết toi rồi. Đoạn văn của em cần thể hiện được những điều nêu trên. Chú ý đến ngôn ngữ của nhân vật Dế Mèn tự diễn tả tâm trạng của mình. 2. Khi đọc phân vai, cần chú ý đến tính cách và giọng điệu của mỗi nhân vật. Dế Mèn kiêu căng, giọng kẻ cả, có phần ngông nghênh. Khi hát trêu cần thể hiện sự khiêu khích... Dế Choắt nhút nhát, sợ sệt, giọng nhún nhường, yếu ớt,... Chị Cốc bực dọc, quát nạt, kiên quyết trừng phạt..’. Cần chú ý phân biệt giọng dẫn chuyện của Dế Mèn và lời đối thoại của nhân vật. PHÓ TỪ I. KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG Bài này yêu cầu các em cần nắm chắc những nội dung sau đây: 1. Thế nào là phó từ? Phó từ là từ:
  4. a) Luôn đi kèm với động từ, tính từ b) Bổ sung ý nghĩa cho động từ, tính từ đi kèm đó. Ví dụ: PHÓ TỪ ĐỘNG TỪ, TÍNH TỪ CÁC PHẦN KHÁC đã đi rất nhiều nơi cũng ra những câu đố oái ăm đương trổ hoa sắp làm bài tập toán có thể xem phim thật đau lòng Các em chú ý: - Phó từ không có khả năng gọi tên sự vật, hành động, tính chất như danh từ, động từ, tính từ. Vì vậy phó từ là một loại hư từ; còn danh từ, động từ, tính từ là những thực từ. Phó từ chuyên đi kèm với động từ, tính từ mà không đi kèm với danh từ. Ví dụ: + Chỉ nói: đang học, sẽ tốt, luôn luôn cố gắng,... + Không nói: đang bút, sẽ nhà, luôn luôn phấn,... 2. Phân loại phó từ Dựa vào vị trí của phó từ khi kết hợp với động từ và tính từ, SGK phân ra thành hai loại: a) Loại phó từ đứng trước động từ, tính từ. Đó là các phó từ như: + đã, từng, đang,...: đã học, từng xem, đang giảng bài,... + rất, hơi, khá,...: rất giỏi, hơi lạnh, khá xinh,... + cũng, vẫn, đều,...: cũng nói, vẫn cười, đều tốt,... + không, chưa, chẳng,...: không học, chưa làm bài, chẳng vẽ,... + hãy, đừng, chớ,...: hãy trật tự, đừng dựng xe, chớ trèo cây,...
  5. b) Loại phó từ đứng sau động từ, tính từ. Đó là các phó từ như: + lắm, quá, cực kì...: tốt lắm, đẹp quá, hay cực kì,... + được,... : nói được, ăn được,... + mất, ra, đi,...: chạy mất, bay mất, nở ra, trốn đi, bỏ đi,... 3. Ý nghĩa của phó từ Phó từ có thể bổ sung những ý nghĩa khác nhau cho động từ, tính từ. Ý nghĩa bổ sung thường gặp ở phó từ là: Bổ sung ý nghĩa thời gian: đang nói Bổ sung ý nghĩa tiếp diễn tương tự: vẫn nói Bổ sung ý nghĩa mức độ: nói lắm Bổ sung ý nghĩa phủ định: chẳng nói Bổ sung ý nghĩa cầu khiến: đừng nói Bổ sung ý nghĩa kết quả: nói được Bổ sung ý nghĩa khả năng: có thể nói Bổ sung ý nghĩa tần số: thường nói Bổ sung ý nghĩa tình thái: đột nhiên nói. II. HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP 1. Bài tập này có 2 yêu cầu: - Tìm các phó từ có trong 2 đoạn trích đã dẫn ở bài tập ; - Xác định ý nghĩa phó từ đó bổ sung cho động từ, tính từ mà nó đi kèm. Các em có thể tiến hành giải bài tập này theo trình tự các bước như sau: a) Tìm các phó từ có trong 2 đoạn trích Để tìm được phó từ, các em hãy: - Gạch dưới các động từ, tính từ có trong đoạn trích ; - Xác định những từ (hư từ) đứng trước hoặc sau động từ, tính từ bổ sung ý nghĩa cho động từ, tính từ đó ; - Khẳng định phó từ cần tìm chính là những hư từ đứng trước hoặc sau động từ, tính từ và bổ sung ý nghĩa cho động từ, tính từ ấy. Với cách tiến hành như vậy, các em sẽ tìm được những phó từ (được in đậm) bổ sung cho các động từ, tính từ (được gạch dưới) có trong bài tập như sau: * Đoạn trích (a) Thế là mùa xuân mong ước đã đến. Đầu tiên, từ trong vườn, mùi hoa hồng, hoa huệ sực nức. Trong không khí không còn ngửi thấy hơi nước lạnh lẽo mà bây giờ đầy hương thơm và ánh sáng mặt trời. Cây hồng bì đã cởi bỏ hết những cái áo lá già đen thủi. Các cành cây đều lấm tấm màu xanh. Những cành xoan
  6. khẳng khiu đương trổ lá lại sắp buông toả ra những tàn hoa sang sáng, tim tím. Ngoài kia, rặng râm bụt cũng sắp có nụ. Mùa xuân xinh đẹp đã về ! Thế là các bạn chim đi tránh rét cũng sắp về ! (Tô Hoài) * Đoạn trích (b) Quả nhiên con kiến càng đã xâu được sợi chỉ xuyên qua đường ruột ốc hộ cho nhà vua trước con mắt thán phục của sứ giả nước láng giềng. (Em bé thông minh) b) Xác định ý nghĩa của từng phó từ Để xác định được đúng đắn ý nghĩa của phó từ, các em cần chú ý một số đặc điểm sau đây: - Phó từ đứng trước động từ, tính từ thường là những phó từ bổ sung ý nghĩa về quan hệ thời gian, sự tương tự hay tiếp diễn, sự phủ định, sự cầu khiến,... - Phó từ đứng sau động từ, tính từ thường là những phó từ bổ sung ý nghĩa về mức độ, khả năng, kết quả. Dựa vào đặc điểm này của phó từ, các em sẽ xác định được ý nghĩa phù hợp cho từng phó từ có trong bài tập như sau: * Đoạn trích (a) - đã đến, đã cởi bỏ, đã về, đương trổ (bổ sung quan hệ thời gian) - cũng sắp về, cũng sắp có, lại sắp buông toả (cũng, lại: bổ sung quan hệ tiếp diễn tương tự ; sắp: bổ sung quan hệ thời gian) - đều lấm tấm (bổ sung quan hệ tiếp diễn tương tự) - buông toả ra (bổ sung quan hệ kết quả và hướng) - không còn ngửi (không: bổ sung quan hệ phủ định - còn: bổ sung quan hệ tiếp diễn tương tự). * Đoạn trích (b) - đã xâu (bổ sung quan hệ thời gian) - xâu được (bổ sung quan hệ kết quả). 2. Bài tập này có ba yêu cầu:
  7. - Viết đoạn văn ngắn (khoảng 3-5 câu) thuật lại sự việc Dế Mèn trêu chị Cốc dẫn đến cái chết của Dế Choắt ; - Xác định các phó từ đã được dùng ; - Chỉ ra ý nghĩa của phó từ. * Đoạn văn tham khảo: Một hôm, Dế Mèn cất giọng hát véo von trêu chọc chị Cốc. Chị Cốc rất tức giận, lò dò đi về phía hang Dế Mèn. Dế Mèn sợ quá chui tọt vào hang nên chị Cốc chỉ nhìn thấy Dế Choắt. Chị Cốc liền mổ liên tiếp vào đầu Choắt. Choắt đau đớn không dậy được, nằm thoi thóp và đã tắt thở. Trong đoạn văn trên có các phó từ (được in đậm) sau: - Bổ sung ý nghĩa thời gian: đã tắt thở - Bổ sung ý nghĩa mức độ: rất tức giận, chỉ nhìn thấy - Bổ sung ý nghĩa tình thái: liền mổ 3. Chính tả Chú ý viết đúng những thanh điệu, phụ âm đầu hoặc phần vần thường bị mắc lỗi. TÌM HIỂU CHUNG VỀ VĂN MIÊU TẢ I. KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG 1. Văn miêu tả là loại văn nhằm giúp người đọc, người nghe hình dung những đặc điểm, tính chất nổi bật của một sự vật, sự việc, con người, phong cảnh... làm cho những cái đó như hiện lên trước mắt người ta. 2. Trong văn miêu tả, năng lực quan sát của người viết, người nói thường bộc lộ rõ nhất. II. HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU BÀI 1. Tình huống 1 : Muốn cho khách nhận ra được nhà em, em phải chỉ cho khách đường đi tới nhà, đặc điểm của nhà mình, tức là phải miêu tả. - Tình huống 2 : Muốn làm cho người bán lấy đúng chiếc áo em định mua, cần phải nói cho họ biết màu sắc, kích cỡ, vị trí của chiếc áo đó. - Tình huống 3 : Muốn cho em học sinh đó hình dung được người lực sĩ, em phải nói về dáng vẻ bề ngoài, thân hình, đặc biệt là sức lực của người được gọi là lực sĩ. - Tình huống khác : Bạn em không đi xem buổi biểu diễn của ca sĩ H, nhưng rất hâm mộ ca sĩ này. Bạn muốn em nói về ca sĩ đó sau khi đi xem về. Em phải làm gì để giúp bạn em. 2. Đoạn văn tả Dế Mèn từ đầu bài đến sắp đứng đầu thiên hạ rồi. Đoạn văn tả Dế Choắt từ Bên hàng xóm đến như hang tôi. a) Hai đoạn văn đó giúp em hình dung được đặc điểm nổi bật của hai chú dế.
  8. Dế Mèn cường tráng, càng mẫm bóng, vuốt ở chân nhọn hoắt, cánh dài, râu dài và cong hùng dũng, đầu to và nổi từng tảng, hai cái răng đen nhánh, đi đứng oai vệ, tính tình kiêu ngạo, xốc nổi. Dế Choắt ốm yếu, người gầy gò và dài lêu nghêu. Cánh ngắn củn, càng bè bè, râu cụt có một mẩu. Mặt mũi ngẩn ngẩn ngơ ngơ. Tính nết ăn xổi ở thì. b) Các chi tiết miêu tả về càng, cánh, râu, thân người và hình ảnh so sánh cộng với những chi tiết về tính khí, cách đi đứng, nói năng giúp ta hình dung được điều đó. III. HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP 1. Đọc kĩ ba đoạn văn trích. Chú ý tìm hiểu xem, mỗi đoạn tả cái gì ? Đặc điểm nổi bật của điều được miêu tả. Từ đó rút ra kết luận : - Đoạn 1 : Tả Dế Mèn, một chàng dế cường tráng. Đặc điểm nổi bật là to, khoẻ, mạnh mẽ, càng mẫm bóng, vuốt sắc nhọn. - Đoạn 2 : Tả chú bé Lượm, nhỏ bé, nhanh nhẹn, vui vẻ, hồn nhiên. - Đoạn 3 : Tả một vùng bãi ngập nước sau mưa. Một thế giới cua cá và thế giới chim muông ồn ào, huyên náo. 2. a) Về cảnh mùa đông, có thể nêu những đặc điểm - Bầu trời âm u, nhiều mây. - Gió lạnh, có thể có mưa phùn. - Cây cối rụng lá trơ cành. - Chim chóc bay đi tránh rét. - Trong nhà, người ta đốt lửa sưởi. b) Về khuôn mặt mẹ có thể chú ý tới các đặc điểm - Hình dáng khuôn mặt (tròn, trái xoan...) - Vầng trán - Tóc ôm khuôn mặt hay được búi lên ? - Đôi mắt, miệng - Nước da, vẻ hiền hậu, tươi tắn... - Sông nước Cà Mau - So sánh - Quan sát, tưởng tượng, so sánh và nhận xét trong văn miêu tả.
  9. SÔNG NƯỚC CÀ MAU I. KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG 1. Văn của Đoàn Giỏi - nhất là những trang văn viết cho thiếu nhi của ông giàu sức lôi cuố n và hấp dẫn bởi chất hồn nhiên, trong trẻo, tài hoa và đậm đà hơi thở của vùng đất phương Nam ; khiến chỉ đọc một lần đã khắc sâu ấn tượng. 2. Sông nước Cà Mau là một đoạn trích trong chương XVIII truyện Đất rừng phương Nam của nhà văn Đoàn Giỏi. Đoạn trích đi từ những ấn tượng khái quát đến miêu tả cụ thể, đã đem đến cho người đọc những cảm nhận đặc sắc về cuộc sống đậm chất Nam Bộ thông qua việc tái hiện thiên nhiên và những sinh hoạt ở vùng sông nước Năm Căn. II. HƯỚNG DẪN ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN 1. Bài văn miêu tả sông nước vùng Cà Mau ở cực nam của Tổ quốc. Trình tự miêu tả thể hiện trong bài văn là : bắt đầu từ cảm tượng chung, thông qua sự quan sát thiên nhiên Cà Mau - tác giả đi đến những nét đặc tả kênh rạch, sông ngòi và nét độc đáo của cảnh chợ Năm Căn họp trên mặt nước. Theo trình tự miêu tả như trên, có thể thấy bố cục của bài văn gồm ba đoạn : - Đoạn 1 (từ đầu đến lặng lẽ một màu xanh đơn điệu) : Cảm tưởng chung về thiên nhiên Cà Mau. - Đoạn 2 (tiếp theo đến khói sóng han mai) : Đặc tả kênh, rạch Cà Mau và con sông Năm Căn rộng lớn. - Đoạn 3 (còn lại) : Đặc tả cảnh chợ Năm Căn. Đọc bài văn, có thể hình dung vị trí của người miêu tả là ngôi thứ nhất “tôi” (ngồi trên thuyền) - tức người chứng kiến và cảm nhận quang cảnh sông nước Cà Mau. Vị trí ấy rất thuận lợi cho việc quan sát và miêu tả vì những hình ảnh và suy nghĩ được thể hiện trực tiếp bằng con mắt của “người trong cuộc”. Với vị trí quan sát của người trên thuyền, các hình ảnh miêu tả được hiện ra trong bài văn như một cuốn phim thật sinh động : nhiều màu sắc, cảnh trí đan cài và giàu cảm xúc. 2. Trong đoạn văn (từ đầu đến lặng lẽ một màu xanh đơn điệu) tác giả đã diễn tả ấn tượng ban đầu bao trùm về vùng sông nước Cà Mau. Ấn tượng ấy là ấn tượng choáng ngợp (thể hiện qua các từ ngữ có tính cường điệu : kênh rạch càng bủa giăng chi chít, trên thì..., dưới thì..., chung quanh... cũng chỉ...). Ấn tượng ấy được cảm nhận qua thị giác, thính giác và vị giác - đặc biệt là cảm giác đơn điệu về màu xanh và... tiếng rì rào bất tận... của rừng, của sóng. Ấn tượng ấy được thể hiện qua các câu văn dài ngắn xen kẽ, biến hoá linh hoạt : vừa tả vừa kể, tạo ra một mạch văn trữ tình lôi cuốn.
  10. 3. Qua đoạn văn tác giả nói về cách đặt tên cho các vùng đất, con kênh ở vùng Cà Mau cho thấy : các địa danh ở đây được đặt tên rất giản dị, gần gũi với thiên nhiên. Cách đặt tên như thế cũng thể hiện đặc điểm của thiên nhiên vùng Cà Mau. 4. Trong đoạn văn từ Thuyền chúng tôi chèo thoát qua... đến sương mù và khói sóng ban mai: a) Những chi tiết thể hiện sự rộng lớn, hùng vĩ của dòng sông và rừng đước : - Nước ầm ầm đổ ra biển ngày đêm như thác - Con sông rộng hơn ngàn thước - Cá nước bơi hàng đàn đen trũi nhô lên hụp xuống như người bơi ếch giữa những đầu sóng trắng. b) Trong câu “Thuyền chúng tôi chèo thoát qua kênh Bọ Mắt, đổ ra con sông Cửa Lớn, xuôi về Năm Căn.” có các động từ : thoát qua, đổ ra, xuôi về chỉ cùng một hoạt động của con thuyền. Nếu thay đổi trình tự những động từ ấy trong câu thì sẽ không thể hiện được các trạng thái hoạt động rất phong phú của con thuyền trong các hoàn cảnh khác nhau. Trong câu này, tác giả sử dụng từ ngữ rất chính xác và tinh tế bởi vì: - thoát qua : diễn đạt sự khó khăn mà con thuyền vừa phải vượt; - đổ ra : chỉ trạng thái con thuyền từ sông nhỏ đến với dòng sông lớn ; - xuôi về: diễn tả trạng thái nhẹ nhàng của con thuyền xuôi theo dòng nước. c) Những từ miêu tả màu sắc của rừng đước : màu xanh lá mạ, màu xanh rêu, màu xanh chai lọ. Qua những từ đó, vừa thấy được khả năng quan sát và phân biệt các sắc độ của tác giả rất tinh tế, đồng thời cũng thấy được sự phát triển mạnh mẽ không ngừng của loài đước. 5. Trong bài văn, sự tấp nập, đông vui, trù phú và độc đáo của chợ vùng Cà Mau được thể hiện qua những chi tiết, hình ảnh đặc sắc của cảnh chợ Năm Căn : - Sự tấp nập, đông vui, trù phú : túp lều lá thô sơ, những ngôi nhà gạch hai tầng, những đống gỗ cao như núi, những cột đáy, thuyền chài, thuyền lưới, những bến vận hà nhộn nhịp, những lò than hầm gỗ đước, những ngôi nhà bè ban đêm ánh đèn măng-sông chiếu rực,... - Sự độc đáo của chợ Năm Căn : chợ họp ngay trên sông, chỉ cần cập thuyền lại với nhau là có thể mua bán đủ thứ tiêu dùng và ẩm thực. Đây còn là nơi hội tụ đông vui của những người bán vải, bán rượu đến từ nhiều vùng, có nhiều giọng nói, trang phục khác nhau,... 6. Qua cách miêu tả từ xa đến gần, từ khái quát đến cụ thể, tả xen kể... cùng với việc sử dụng các từ ngữ gợi cảm tinh tế của tác giả, có thể cảm nhận được vẻ đẹp trù phú của vùng sông nước Cà Mau. Đó là một nơi có khung cảnh thiên
  11. nhiên hoang dã và hùng vĩ - nơi có những dòng sông rộng lớn và rừng đước bạt ngàn ; đồng thời đó cũng là nơi có cảnh chợ Năm Căn đặc sắc, tấp nập đông vui. III. HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP 1. Thực hành viết một đoạn văn trình bày cảm nhận về vùng Cà Mau qua bài Sông nước Cà Mau. Trong đoạn văn, cần nêu được các ý : - Đặc sắc của cảnh thiên nhiên, sông nước Cà Mau : rộng lớn, hùng vĩ... - Cảnh chợ Năm Căn trù phú, tấp nập, độc đáo. - Giọng văn lối cuốn, hấp dẫn ; đường nét miêu tả vừa khái quát vừa tỉ mỉ đến từng chi tiết, khiến cho ấn tượng của người đọc về bức tranh Sông nước Cà Mau thật sâu sắc. 2. Khi kể tên các con sông ở quê mình, em cần nêu được một số đặc điểm chung và nét đặc sắc riêng của những con sông đó (ví dụ : hình dáng, màu nước, tốc độ dòng chảy, giá trị kinh tế, quang cảnh trên sông ở những thời điểm khác nhau, V.V.). SO SÁNH I. KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG Bài này yêu cầu các em: - Hiểu thế nào là so sánh - Biết cấu tạo của so sánh. 1. Thế nào là so sánh? a) So sánh là đối chiếu sự vật, sự việc, hiện tượng này với sự vật, sự việc, hiện tượng khác có nét tương đồng. Ví dụ: - Trăng như cái liềm vàng, trăng như cái đãi bạc. (đối chiếu sự vật này với sự vật khác có sự tương đồng về hình dáng) - Rừng đước dựng lên cao ngất như hai dãy trường thành vô tận. (đối chiếu sự việc, hiện tượng này với sự việc, hiện tượng khác có sự tương đồng về độ cao) - Những ngọn cỏ gẫy rạp, y như có nhát dao vừa lia qua. (đối chiếu sự việc, hiện tượng này với sự việc, hiện tượng khác có sự tương đồng về trạng thái) b) Không phải cứ lúc nào dùng so sánh là chúng ta cũng tạo ra được những câu văn có sức gợi tả. Ví dụ: - Sao nó cứ lừ đừ như bố nó thể. - Trông nó đẹp như mẹ.
  12. Nhưng nếu so sánh dùng với mục đích tu từ, so sánh sẽ làm tăng được sức gợi hình, gợi cảm cho câu văn. Ví dụ: - Sao nó cứ lừ đừ như ông từ vào đền thế. - Trông nó đẹp như tranh vẽ. c) Trong các văn bản nghệ thuật, đặc biệt trong văn miêu tả, so sánh thường dùng với mục đích tu từ, vì thế nếu lược bỏ so sánh, câu văn sẽ mất đi tính sinh động và gợi tả rõ rệt. Ví dụ: - Có dùng so sánh: Chợ Hòn Gai buổi sáng la liệt tôm cá. Những con cá song khoẻ, vớt lên hàng giờ vẫn giãy đành đạch, vảy xám hoa đen lốm đốm. Những con cá chim mình dẹt như hình con chim lúc sải cánh bay, thịt ngon vào loại nhất nhì. Những con cá nhụ béo núc, trắng lốp, bóng mượt như được quét một lớp mỡ ngoài vảy. Những con tôm he tròn, thịt căng lên từng ngấn như cổ tay của trẻ lên ba, da xanh ánh, hàng chân choi choi như muốn bơi. (Thi Sảnh) - Không dùng so sánh: Chợ Hòn Gai buổi sáng la liệt tôm cá. Những con cá song khoẻ, vớt lên hàng giờ vẫn giãy đành đạch, vảy xám hoa đen lốm đốm. Những con cá chim mình dẹt, thịt ngon vào loại nhất nhì. Những con cá nhụ béo núc, trắng lốp, bóng mượt. Những con tôm he tròn, thịt căng lên từng ngấn, da xanh ánh, hàng chân choi choi như muốn bơi. 2. Cấu tạo của so sánh a) Cấu tạo đầy đủ của so sánh gồm có: - Vế A: nêu tên sự vật, sự việc, hiện tượng được so sánh. Ví dụ: Cái chàng Dế choắt. - Vế B: nêu tên sự vật, sự việc, hiện tượng dùng để so sánh với sự vật, sự việc, hiện tượng đã được nói tới ở vế A. Ví dụ: một gã nghiện thuốc phiện. - Từ ngữ nêu phương diện so sánh. Ví dụ: người gầy gò và dài lêu nghêu. - Từ so sánh. Ví dụ: như, giống như... Các em có thể hình dung cấu tạo đầy đủ của phép so sánh dựa theo bảng được lập dưới đây: Vế A Phương diện so Từ so sánh Vế B sánh Cái chàng người gầy gò như một gã nghiện thuốc Dế Choắt và dài lêu nghêu phiện.
  13. Con mèo vằn to hơn cả con hổ. vào tranh b) Cấu tạo không đầy đủ của so sánh thường là: - Các từ ngữ chỉ phương diện so sánh hoặc từ ngữ chỉ ý so sánh (gọi tắt là từ so sánh) có thể bị lược bớt. Ví dụ: Phương diện so Vế A Từ so sánh Vế B sánh Mẹ cũng là cô giáo Cô giáo như mẹ hiền Mũi Cà Mau mầm đất tươi non - Vế B có thể được đảo lên trước vế A. Đây là loại so sánh thường được dùng trong thơ ca. Ví dụ: Vế A Vế B Trường Sơn chí lớn ông cha Cửu Long lòng mẹ hao la sóng trào Như tre mọc thẳng con người không chịu khuất II. HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP 1. Bài tập này yêu cầu các em dựa vào những mẫu đã có trong bài tập để tìm thêm cho mỗi loại một ví dụ khác. Để làm bài tập này, các em lưu ý: - Đề bài không yêu cầu tìm thêm ví dụ giống như mẫu về mặt cấu tạo (đầy đủ hoặc không đầy đủ các bộ phận). - Cần tìm ví dụ sao cho phù hợp với những gợi ý đã cho trước (so sánh đồng loại: người với người, vật với vật ; so sánh không đồng loại: so sánh vật với người, cái cụ thể với cái trừu tượng). Dưới đây là một số ví dụ được đặt theo những chỉ dẫn trong bài tập: a) So sánh đồng loại - So sánh người với người:
  14. Dượng Hương Thư... cặp mắt nảy lửa ghì trên ngọn sào giống như một hiệp sĩ của Trường Sơn oai linh hùng vĩ. (Võ Quảng) - So sánh vật với vật: + Đường mềm như dải lụa Uốn mình dưới cây xanh (Đường làng, Tập đọc lớp 3 — 1997) + Phong cảnh đó khác gì một hức tranh sơn thuỷ. (Phan Kế Bính) b) So sánh khác loại - So sánh vật với người: + Trên quảng trường Ba Đình lịch sử, lăng Bác uy nghi mà gần gũi... Ngay thềm lăng, mười tám cây vạn tuế như một hàng quân danh dự đứng trang nghiêm. (Theo Tiếng Việt 3, tập một, 1998) + Những cành dâu loè xoè theo gió như trăm nghìn cánh tay xoè ra, hứng lấy ánh nắng vàng rực, che mát cho khoai lang. (Dương Thị Xuân Quý) - So sánh cái cụ thể với cái trừu tượng: + Con đi trăm núi ngàn khe Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm. (Tố Hữu) + Trong như tiếng hạc bay qua, Đục như tiếng suối mới sa nửa vời. Tiếng khoan như gió thoảng ngoài, Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa. (Nguyễn Du) 2. Bài tập này có hai yêu cầu: - Viết tiếp vào chỗ trống. - Tạo thành một thành ngữ có dùng phép so sánh. Các em có thể tham khảo những thành ngữ sau: - Khỏe như voi, khỏe như trâu, khỏe như hùm,.. - Đen như cột nhà cháy, đen như bồ hóng, đen như củ tam thất, đen như củ súng,...
  15. - Trắng như bông, trắng như tuyết, trắng như cước, trắng như ngà, trắng như trứng gà bóc,... - Cao như cây sào, cao như sếu, cao như núi Thái Sơn,... 3. Một số phép so sánh có trong bài: a) Bài học đường đời đầu tiên - Những ngọn cỏ gẫy rạp, y như có nhát dao vừa lia qua. - Hai cái răng đen nhánh lúc nào cũng nhai ngoàm ngoạp như hai lưỡi liềm máy làm việc. - Cái chàng Dế Choắt, người gầy gò và dài lêu nghêu như một gã nghiện thuốc phiện. - Đã thanh niên rồi mà cánh chỉ ngắn củn đến giữa lưng, hở cả mạng sườn như người cởi trần mặc áo gi-lê. - Chú mày hôi như cú mèo thế nào, ta nào chịu được. - Đến khi định thần lại, chị mới trợn tròn mắt, giương cánh lên, như sắp đánh nhau. - Mỏ Cốc như cái dùi sắt, chọc xuyên cả đất. - Như đã hả cơn tức, chị Cốc đứng rỉa lông cánh một lát nữa rồi lại bay là xuống đầm nước, không chút để ý cảnh khổ đau vừa gây ra. b) Sông nước Cà Mau - Càng đổ dần về hướng mũi Cà Mau thì sông ngòi, kênh rạch càng bủa giăng chi chít như mạng nhện. - [...] gọi là kênh Bọ Mắt vì ở đó tụ tập không biết cơ man nào là bọ mắt, đen như hạt vừng, chúng cứ bay theo thuyền từng bầy như những dám mây nhỏ, [...]. - Dòng sông Năm Căn mênh mông, nước ầm ầm đổ ra biển ngày đêm như thác, cá nước bơi hàng đàn đen trũi nhô lên hụp xuống như người bơi ếch giữa những đầu sóng trắng. - [...] trông hai bên bờ, rừng đước dựng lên cao.ngất như hai dãy trường thành vô tận. - [...] những đống gỗ cao như núi chất dựa bờ, [...] - [...] những ngôi nhà bè ban đêm ánh đèn măng-sông chiếu rực trên mặt nước như những khu phố nổi, [...] - [...] đã điểm tô cho Năm Căn một màu sắc độc đáo, hơn tất cả các xóm chợ vùng rừng Cà Mau. 4. Tiếp tục sửa những lỗi chính tả do cách phát âm địa phương gây ra. QUAN SÁT, TƯỞNG TƯỢNG, SO SÁNH
  16. VÀ NHẬN XÉT TRONG VĂN MIÊU TẢ I. KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG 1. Vai trò, tác dụng của quan sát, tưởng tượng, so sánh và nhận xét trong vãn miêu tả. 2. Hình thành các kĩ năng trên khi nhận diện các đoạn văn, bài văn miêu tả và khi thực hành viết kiểu bài này. II. HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU BÀI 1. Đọc 3 đoạn văn trong SGK. 2. Trả lời các câu hỏi: a) Mỗi đoạn văn giúp người đọc hình dung được những đặc điểm nổi bật: - Đoạn 1: hình ảnh chàng Dế Choắt gầy gò, ốm yếu, đáng thương. - Đoạn 2: quang cảnh thơ mộng và hùng vĩ của vùng sông nước Cà Mau - Năm Căn. - Đoạn 3: sức sống của cây gạo và mùa xuân tươi đẹp. b) Những đặc điểm nổi bật đó được thể hiện ở những từ ngữ, hình ảnh: - Đoạn 1: gầy gò, lêu nghêu, bè bè, nặng nề, ngẩn ngẩn ngơ ngơ... - Đoạn 2: bủa giăng chi chít như mạng nhện, trời xanh, nước xanh, rừng xanh, rì rào bất tận, mênh mông, ầm ầm, như thác... - Đoạn 3: chim ríu rít, cây gạo - tháp đèn khổng lồ, ngàn bông hoa - ngàn ngọn lửa, ngàn búp nõn - ngàn ánh nến trong xanh... Để tả được như trên, người viết cần có những năng lực cơ bản: quan sát tinh tế, tưởng tượng phong phú, so sánh đa dạng và nhận xét chính xác. c) Tìm những câu văn có sự liên tưởng, tưởng tượng và so sánh trong các đoạn. Chỉ ra sự độc đáo. - Cái chàng Dế Choắt, người gầy gò và dài lêu nghêu như một gã nghiện thuốc phiện ; Đã thanh niên rồi mà cánh chỉ ngắn củn đến giữa lưng, hở cả mạng sườn như người cởi trần mặc áo gi-lê... - Càng đổ dần về hướng mũi Cà Mau thì sông ngòi, kênh rạch càng bủa giăng chi chít như mạng nhện ; Dòng sông Năm Căn mênh mông, nước ầm ầm đổ ra biển ngày đêm như thác, cá nước bơi hàng đàn đen trũi nhô lên hụp xuống như người bơi ếch giữa những đầu sóng trắng ; Thuyền xuôi giữa dòng con sông rộng hơn ngàn thước, trông hai bên bờ, rừng đước dựng lên cao ngất như hai dãy trường thành vô tận. - Từ xa nhìn lại, cây gạo sừng sững như một tháp đèn khổng lồ: hàng ngàn bông hoa là hàng ngàn ngọn lửa hồng tươi, hàng ngàn búp nõn là hàng ngàn ánh nến trong xanh, tất cả đều lóng lánh, lung linh trong nắng.
  17. Các hình ảnh tưởng tượng và so sánh ấy đều rất đặc sắc vì nó thể hiện vừa chân thực, vừa tinh tế về đối tượng được miêu tả và mở ra những liên tưởng lí thú cho người đọc. Phải quan sát kĩ càng và tưởng tượng phong phú, các tác giả mới có thể viết được như vậy. 3. So sánh đoạn văn của Đoàn Giỏi, với đoạn nguyên văn (mục 1 đoạn 2) những từ, ngữ đã bị lược bỏ là: - ầm ầm - như thác - nhô lên hụp xuống như người hơi ếch Những chữ bị lược đi hoặc là động từ mạnh, hoặc là hình ảnh so sánh ấn tượng. Nếu thiếu những chữ đó, đoạn văn miêu tả sẽ không còn vẻ đẹp của sự sinh động do khả năng liên tưởng và tưởng tượng mà các từ bị lược đi có thể gợi ra. III. HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP 1. a) Trong đoạn văn miêu tả quang cảnh Hồ Gươm, tác giả đã quan sát và lựa chọn những hình ảnh đặc sắc và tiêu biểu: - mặt hồ sáng long lanh - cầu Thê Húc màu son - đền Ngọc Sơn - gốc đa già, rễ lá xum xuê - Tháp Rùa xây trên gò đất giữa hồ. b) Những từ thích hợp có thể đặt vào chỗ trống trong ngoặc đơn là những từ chỉ tính chất và đặc điểm nổi bật của Hồ Gươm. Có thể điền như sau: - hồ như một chiếc gương lớn - cong cong như con tôm - Mái đền lấp ló bên gốc đa già - tường rêu cổ kính - cỏ mọc xanh um. 2. Đọc đoạn văn của Tô Hoài, có thể tìm những hình ảnh tiêu biểu và đặc sắc làm nổi bật thân hình đẹp, cường tráng nhưng tính tình ương bướng kiêu căng của Dế Mèn: - Rung rinh, bóng mỡ - Đầu to, nổi từng tảng - Răng đen nhánh, nhai ngoàm ngoạp - Râu dài, uốn cong - Trịnh trọng, khoan thai đưa cả hai chân lên vuốt râu.
  18. 3. Quan sát và ghi chép những đặc điểm nổi bật nhất của ngôi nhà hoặc căn phòng của em. Chú ý: - Hình thức bên ngoài - Đồ đạc và cách bài trí bên trong... 4. Nếu tả lại quang cảnh buổi sáng trên quê hương, có thể liên tưởng và so sánh: - Mặt trời (quả cầu lửa khổng lồ) - Bầu trời (chiếc lồng bàn tím phớt) - Hàng cây (hàng quân xanh chỉnh tề) - Núi (đồi) (bát úp, mâm xôi) - Những ngôi nhà (chấm sáng nhấp nhô). 5. Từ bài Sông nước Cà Mau của Đoàn Giỏi, viết một đoạn văn tả lại quang cảnh một dòng sông, hay khu rừng đã gặp. Chú ý miêu tả từ xa đến gần hoặc ngược lại, đặc tả những chi tiết đáng chú ý và gây được ấn tượng nhất. Thu Cúc, ngày 24 tháng 3 năm 2020 Giáo viên bộ môn Nguyễn Thị Kim Hương