Đề cương ôn tập môn Thể dục Lớp 12 - Chủ đề: Thể thao tự chọn. Bóng chuyền
Bạn đang xem tài liệu "Đề cương ôn tập môn Thể dục Lớp 12 - Chủ đề: Thể thao tự chọn. Bóng chuyền", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
de_cuong_on_tap_mon_the_duc_lop_12_chu_de_the_thao_tu_chon_b.pdf
Nội dung tài liệu: Đề cương ôn tập môn Thể dục Lớp 12 - Chủ đề: Thể thao tự chọn. Bóng chuyền
- CHỦ ĐỀ: THỂ THAO TỰ CHỌN BÓNG CHUYỀN I - MỤC TIÊU Học xong nội dung môn Bóng chuyền, HS: - Biết cách thực hiện : Chuyển bước hai, nhảy chắn bóng, đập bóng chính diện theo phương lấy đà, một số bài tập phối hợp, một số chiến thuật, đấu tập theo luật. – Hiểu một số điểm trong Luật Bóng chuyền. - Thực hiện cơ bản đúng những bài tập trên. - Vận dụng những hiểu biết về chiến thuật và luật khi tập luyện, thi đấu. II - NỘI DUNG 1. Kĩ thuật a) Ôn tập - Chuyền bóng cao tay bằng hai tay. - Đệm bóng. - Phát bóng : Thấp tay chính diện, thấp tay nghiêng mình và cao tay chính diện. b) Học mới - Chuyền bước 2 + Chuyền bước 2 là động tác tổ chức tấn công được thực hiện chủ yếu bằng kĩ thuật chuyền bóng hoặc đệm bóng (từ đường bóng bước 1 - đỡ phát bóng, đỡ đập bóng của đối phương) cho VĐV hàng tấn công thực hiện động tác đập bóng. + Yêu cầu chuyển bước 2 là phải có đường bóng đạt độ chuẩn xác cao về tầm, hướng, độ ổn định không xoáy và điểm rơi của bóng. Trong một đội bóng, VĐV chuyền bước 2 là người có nhiệm vụ tổ chức tấn công, triển khai loại hình chiến thuật phù hợp với khả năng của đồng đội, phù hợp với điều kiện và tình huống thi đấu. + Vị trí của người chuyền bước 2: Trong đội hình chiến thuật đơn giản (số 6 tiến và số 6 lùi), số 3 là vị trí của người chuyền bước 2 (vị trí trung tâm của hàng tấn công). + Yêu cầu đối với chuyền bước 2: Để thực hiện chuyền bước 2 có hiệu quả, đòi hỏi người chuyển bước 2 phải có kĩ thuật cơ bản về chuyền bóng và đệm bóng thuần thục, có khả năng thực hiện kĩ thuật trong những điều kiện khó khăn (phải kết hợp di chuyển nhanh, đường bóng đến có tốc độ và độ cao không ổn định). - Di chuyển : Do diễn biến của hoạt động thi đấu, người giữ nhiệm vụ chuyền bước 2 phải di chuyển rất nhiều để đón bóng. Kĩ thuật di chuyển được vận dụng rất đa dạng và linh hoạt : bước, nhảy, chạy,... nhằm tạo ra vị trí và tư thế được coi là thuận lợi để chuyển hoặc đệm bóng đến vị trí tấn công. Động tác được coi là thuận lợi nhất cho người chuyền bước 2 sử dụng là kĩ thuật chuyền bóng cao tay chính diện bằng hai tay trước mặt.
- Đường bóng và điểm rơi của bóng trong chuyền bước 2: Đối với người mới học, kĩ thuật đập bóng chính diện theo phương lấy đà tại vị trí số 4 hoặc số 2 là kĩ thuật cơ bản nhất và dễ tập luyện. Vì vậy đường bóng và điểm rơi của bóng trong chuyền bóng bước 2 được chuyển hoặc đệm lên từ vị trí số 3 phải đạt các yêu cầu sau : Đường bóng có độ cao 2 - 2,5m so với mép trên của lưới. Từ vị trí chuyền bóng (Số 3) đến điểm rơi của bóng trên mặt sân của bóng có độ dài 3,5 - 4m. Đường bóng đi trong không trung theo đường parabon và đường bóng rơi xuống có độ dốc lớn hơn. Đường bóng chuyển bước 2 thường nằm trong mặt phẳng song song với lưới, cách mặt phẳng của lưới 30 - 50cm. Trong tập luyện, để phục vụ đập bóng, bóng chuyền bước 2 phải đảm bảo sự ổn định về độ cao, điểm rơi và khoảng cách so với lưới. - Đập bóng chính diện (phân tích kĩ thuật với người thuận tay phải). + Đập bóng chính diện là đập bóng cùng hướng với chạy đà và gập thân của VĐV. Trong quá trình thực hiện động tác, mặt và thân của VĐV đều hướng về phía lưới, điểm bóng rơi trùng với hướng chạy đà (H. 48). Kĩ thuật đập bóng được thực hiện từ nhiều vị trí trên sân với nhiều loại hình, đường bỏng bước 2 (chuyền cao, thấp, ngắn, dài,...). Tuy nhiên kĩ thuật đập bóng được phân chia thành hai dạng cơ bản: đập chính diện và đập nghiêng mình. Hình 48 : Đập bóng chính diện theo phương lấy đà + Kĩ thuật TTCB : Người đập bóng đứng chân trước chân sau, ở tư thế cao, cách lưới khoảng 3m. Hai chân ở trạng thái di chuyển nhẹ nhàng tại chỗ, sẵn sàng xuất phát và điều chỉnh bước đà. Mắt quan sát bóng để xác định vị trí và chọn thời điểm vào đà, giậm nhảy thích hợp. Thân trên hơi gập, hai tay co tự nhiên.
- Chạy đà : Khi đã xác định được vị trí và thời điểm rơi của bóng thì lập tức vào đà. Cần căn cứ vào tốc độ, độ cao và cự li đường bóng chuyền bước 2 để xác định thời điểm vào đà cho thích hợp. Góc độ vào đà tốt nhất khoảng 45˚đường giữa sân. Số bước chạy đà có thể là một, hai, ba bước hoặc nhiều hơn tùy theo tình hình cụ thể, chủ yếu là cự li giữa người và điểm rơi của bóng. Song thường đà ba bước đối với yêu cầu của kĩ thuật cơ bản. Khi vào đà người đập bóng chạy tự nhiên, thoải mái, mắt quan sát bóng. Tốc độ vào đà nhanh dần, hạ thấp trọng tâm thân người. Đối với bước cuối cùng tốc độ nhanh và dài nhất, trọng tâm hạ thấp nhất so với hai bước đầu. Trong thời điểm thực hiện bước cuối cùng, đồng thời thực hiện các hoạt động sau : Chân sau nhanh chóng đuổi kịp chân trước, cả hai bàn chân lướt trên mặt đất cùng một lúc và đặt vào vị trí giậm nhảy (khoảng cách hai bàn chân rộng bằng vai). Khi hai chân chạm đất thì khuỵu gối, hạ thấp trọng tâm, hai tay phối hợp nhịp nhàng vung sang ngang - ra sau chuẩn bị cho bật nhảy. Kết thúc giai đoạn chạy đà và chuẩn bị bật nhảy thân người thẳng, hai cánh tay ép sát thân người, hai cẳng tay vuông góc với cánh tay. Với kĩ thuật như vậy cho phép thực hiện động tác vào đà nhanh mà không để thân người lao vào lưới, còn tạo điều kiện để phát huy được cả lực của chân và tay khi bật nhảy. Bật nhảy : Từ tư thế chuẩn bị giậm, hai chân đạp đất nhanh mạnh theo phương thẳng đứng, duỗi các khớp gối, khớp hông, đồng thời hai tay chuyển nhanh mạnh từ dưới - lên trên để phối hợp nâng trọng tâm cơ thể lên theo. Trên không đập bóng : Khi hai chân trời đất, người đập bóng đã ở độ cao nhất định thì thực hiện động tác vươn tay để chuẩn bị đánh bóng. Tay đánh bóng vung từ trước - lên cao - ra sau, khuỷu tay cao ngang vai hoặc hơn vai, lòng bàn tay hướng về phía trước, tay trái duỗi tự nhiên và hạ thấp. Lúc này hai chân hơi co ở khớp gối, ngực hơi ưỡn ; toàn thân ưỡn cong hình cánh cung. Khi đánh bóng, tay phải chuyển động từ sau - ra trước nhanh và đột ngột. Chuyển động của tay khi đánh bóng là chuyển động có tính chất liên hoàn theo một thứ tự nhất định. Đầu tiên vai phải chuyển động về phía trước, sau đó kéo theo cánh tay, khuỷu tay, căng tay, cuối cùng là bàn tay. Tay vươn dài tới độ với cao nhất, bàn tay đánh bóng gập ở cổ tay để bóng cắm xuống. Khi bàn tay đánh vào bóng cũng là lúc hóp bụng nhanh, gập thân, chân lắng về trước để tăng lực. Đồng thời cùng theo quán tính của chuyển động đập bóng, lúc này tay trái hạ thấp và co tự nhiên ngang bụng. - Tiếp đất : Sau khi hoàn thành động tác đánh bóng ở trên không, tay thu gọn tư thế tự nhiên canh thân người bắt đầu rơi xuống đất. Rơi xuống chạm đất bằng hai nửa trước của bàn chân, đồng thời gối khuya, trọng tâm người hạ thấp để giảm xung lực. Sau đó, người đập bóng nhanh chóng trở về TTCB để tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ tiếp theo. - Nhảy chắn bóng Khái niệm : Chắn bóng là kĩ thuật phòng thủ của bóng chuyền, được thực hiện ở trên lưới. VĐV chắn bóng dùng hai bàn tay để chặn các đường bóng tấn công của đối
- phương, vì vậy chắn bón, không chỉ mang tính chất phòng thủ mà còn thể hiện tính phản công trực tiếp nhằm giành điểm, Kĩ thuật chăn bông gồm 4 giai đoạn: Chuẩn bị, bật nhảy, chắn bóng và tiếp đất (H. 49a và 49b). Hình 49 Kỹ thuật nhảy chắn bóng + Chuẩn bị: Người chắn bóng đứng cách đường giữa sân 20 - 30cm, hai chân rộng bằng vai, gối hơi khuỵu, hai cẳng tay co ở trước ngực, các ngón tay duỗi tự nhiên và xòe đều, Mắt quan sát chuyền bước 2 và hoạt động của đấu thủ đập bóng bên đối phương để từ đó xác định vị trí và thời điểm bật nhảy cho phù hợp. + Bật nhảy: Để thực hiện bật nhảy, người chắn bóng hạ thấp trọng tâm, hai tay vung sang ngang - ra sau - xuống dưới theo hình mái chèo. Thời điểm bật nhảy chắn bóng tốt nhất là khi người đập hoàn thành vung tay và chuẩn bị đánh bóng với bóng chuyền bước 2 có độ cao trung bình trở lên. Nếu đối phương đập nhanh, đường bóng chuyền 2 thấp thì người chắn bật nhảy gần như cùng lúc với người đập. Cần căn cứ vào tình hình cụ thể mà vận dụng thời điểm bật nhảy cho phù hợp. + Chắn bóng: Khi chắn bóng hai bàn tay vươn cao, hơi úp chếch sang sân đối phương. Các gói tay xòe đều, bàn tay và các ngón tay ở trạng thái “lên gân”, khoảnh cách giữa hai bàn tay nhỏ hơn đường kính bóng. Khi hai bàn tay chạm bóng thì hóp bụng, chân hơi lăng về trước để tạo lực cho tay đẩy bóng, gập ghìm cổ tay để cho bóng bật lại sân đối phương. + Tiếp đất : Chắn bóng xong hai tay thu về nhanh hai bên thân, hai cánh tay ép sát sườn, hai chân tiếp đất trình tự sau: từ hai nửa trước của bàn chân chạm đất. Khi tiếp đất, khuỵu gối chùng chân để hạ thấp trọng tâm kết hợp giảm chấn động. Sau đó nhanh chong về TTCB. 2. Một số điểm trong Luật Bóng chuyền a) Đập bóng tấn công (Điều 14) - Đập bóng tấn công : + Trừ phát bóng và chắn bóng, mọi hành động trực tiếp đưa bóng sang sân đối phương đều là đập bóng tấn công. + Được phép bỏ nhỏ, đánh nhẹ khi đập bóng tấn công nếu không dính bóng,
- không giữ hoặc ném vứt bóng. + Hoàn thành đập bóng tấn công khi bóng đã hoàn toàn qua mặt phẳng đứng của lưới hoặc bóng chạm đối phương. - Giới hạn của đập bóng tấn công : + Cầu thủ hàng trước có thể đập bóng ở bất kì độ cao nào, nhưng phải chạm bóng trong phạm vi không gian sân của mình. + Cầu thủ hàng sau (ở sau vạch tấn công) được đập bóng tấn công ở bất kì độ cao nào trong khu vực tấn công nhưng : Khi giậm nhảy, một hoặc hai bàn chân của đấu thủ đó không được chạm hoặc vượt qua đường tấn công. Đập bóng xong cầu thủ có thể rơi xuống khu tấn công. + Cầu thủ hàng sau cũng có thể đập bóng trong khu tấn công, nếu lúc chạm bóng không hoàn toàn cao hơn mép trên của lưới. + Không cầu thủ nào được phép đập tấn công quả phát bóng của đối phương, khi bóng ở khu tấn công và hoàn toàn cao hơn mép trên của lưới. - Lỗi đập bóng tấn công : + Đập bóng ở không gian sân đối phương. + Đập bóng ra ngoài. + Cầu thủ hàng sau đập bóng ở khu tấn công nhưng lúc đánh bóng, bóng hoàn toàn cao hơn mép trên của lưới. + Cầu thủ hoàn thành đập bóng tấn công quả bóng phát của đối phương khi bóng trong khu tấn công và hoàn toàn cao hơn mép trên của lưới. + Cầu thủ tự do (Libero) kết thúc đập bóng nếu vào thời điểm chạm bóng, bóng hoàn toàn cao hơn mép trên của lưới. + Cầu thủ hoàn thành đập quả bóng cao hơn mép lưới do cầu thủ tự do (Libero) đứng ở khu trước nêu bằng chuyền cao tay. b) Chắn bóng (Điều 15) - Chắn bóng là hành động của các cầu thủ ở gần lưới chặn quả bóng từ sân đối phương sang bằng cách giơ với tay cao hơn mép trên của lưới. Chỉ các cầu thủ hàng trên được phép chắn bóng. - Định chắn bóng : Là hành động chắn bóng nhưng không chạm bóng. - Hoàn thành chắn bóng : Chắn bóng hoàn thành khi bóng chạm tay người chắn. - Chắn tập thể : Chắn bóng tập thể là hai hay ba cầu thủ đứng gần nhau thực hiện chắn và hoàn thành chắn khi một trong các cầu thủ đó chạm bóng. - Chắn chạm bóng : Một hay nhiều cầu thủ chắn có thể chạm bóng liên tiếp (nhanh và liên tục), nhưng những lần chạm đó phải trong cùng một hành động. . - Chắn bóng bên không gian sân đối phương : Khi chắn bóng, cầu thủ có thể đưa bàn tay và cánh tay của mình qua trên lưới sang bên sân đối phương, nhưng hành động đó không được cản trở đối phương đánh bóng. Không được phép chạm bóng bên kia lưới trước khi đối phương thực hiện đập bóng tấn công.
- - Chắn bóng và số lần chạm bóng : Chạm bóng trong chắn bóng không tính vào số lần chạm bóng của đội. Sau lần chạm bóng này, đội được tiếp tục chạm 3 lần nữa để đưa bóng sang sân đối phương. Sau khi chắn bóng, lần chạm bóng đầu tiên có thể do bất kì cầu thủ nào kể cả cầu thủ đã chạm bóng khi chắn bóng. - Chắn phát bóng : Cấm chắn quả phát bóng của đối phương. - Lỗi chắn bóng : + Cầu thủ chắn bóng chạm bóng ở không gian đối phương trước hoặc cùng khi đối phương đập bóng. + Cầu thủ hàng sau có thể định chắn bóng như tham gia hoàn thành chắn bóng hoặc tham gia hoàn thành chắn bóng tập thể. + Chắn quả phát bóng của đối phương. + Bóng chạm tay chắn ra ngoài. + Chắn bóng bên không gian đối phương ngoài cọc giới hạn. + Cầu thủ Libero định chắn bóng hoặc tham gia chắn bóng tập thể. c) Được 1 điểm, thắng 1 hiệp và thắng 1 trận (Điều 6) - Được 1 điểm : + Được 1 điểm khi : Bóng chạm sân đối phương, do đội đối phương phạm lôi, đội đối phương bị phạt. + Phạm lỗi : Khi một đội có hành động đánh bóng sai luật hoặc phạm luật bằng hành động nào khác thì trọng tài thổi còi phạm lỗi, xét mức lỗi phạm và quyết định mức phạt theo luật. Nếu hai hay nhiều lỗi xảy ra liên tiếp, chỉ tính lỗi đầu tiên. Nếu hai đội cùng phạm hai hoặc nhiều lỗi thì xử hai đội cùng phạm lỗi, đánh lại pha bóng đó. + Hậu quả của thắng một pha bóng : Một pha bóng là chuỗi các hành động đánh bóng tính từ thời điểm người phát bóng đánh chạm bóng đến khi trọng tài thổi còi “bóng chết”. Nếu đội phát bóng thắng pha bóng đó thì đội phát bóng được 1 điểm và tiếp tục phát bóng. Nếu đội đối phương đỡ phát bóng thắng pha bóng đó thì đội đó được 1 điểm và giành quyền phát bóng. - Thắng 1 hiệp : Đội thắng 1 hiệp (trừ hiệp thứ 5 - hiệp quyết thắng) là đội được 25 điểm trước và hơn đội kia ít nhất 2 điểm. Trường hợp hoà 24 - 24, phải đấu tiếp cho đến khi hơn nhau 2 điểm (26 - 24, 27 - 25,...). - Thắng 1 trận : + Đội thắng 1 trận là đội thắng 3 hiệp. + Trong trường hợp hoà 2 - 2, hiệp quyết thắng (hiệp 5) đấu đến 15 điểm và đội thắng phải hơn ít nhất 2 điểm. - Bỏ cuộc và đội hình không đủ người thi đấu: + Nếu một đội sau khi đã được mời đến thuyết phục vẫn từ chối không đấu. đội đó bị tuyên bố bỏ cuộc và bị thua với kết quả toàn trận 0 – 3, mỗi hiệp 0-25. + Nếu một đội không có lí do chính đáng để có mặt đúng giờ thi đấu thì tuyên bố bỏ cuộc và xử lí kết quả thi đấu như điều trên.
- + Một đội bị tuyên bố không đủ đội hình thi đấu một hiệp hoặc một trận thì bị thua hiệp đó hoặc trận đó. Đội đối phương được thêm đủ số điểm ca hiệp còn thiếu để thắng hiệp hoặc trận đó. Đội có đội hình không đủ người đấu bị giữ nguyên số điểm và kết quả các hiệp trước. d) Thay người (Điều 8) - Thay người là hành động mà một cầu thủ sau khi đã được thư kí ghi lại, vào sân thay thế vị trí cho một cầu thủ khác phải rời sân (trừ Libero). Thay người phải được phép của trọng tài. - Giới hạn thay người : + Một hiệp mỗi đội được thay tối đa 6 lần người. Cùng một lần có thể thay một hay nhiều cầu thủ. + Một cầu thủ của đội hình chính thức có thể được thay ra sân và lại thay vào sân, nhưng trong 1 hiệp chỉ được 1 lần và phải đúng vị trí của mình trong đội hình đã đăng kí. + Một cầu thủ dự bị được vào sân thay cho một cầu thủ chính thức 1 lần trong 1 hiệp, nhưng chỉ được thay ra bằng cầu thủ chính thức đã thay e) Tổ trọng tài và thủ tục (Điều 23) - Thành phần Tổ trọng tài điều khiển trận đấu gồm : + Trọng tài thứ nhất. + Trọng tài thứ hai. + Thư kí. + Bốn (hoặc hai) giám biên. - Thủ tục : + Chỉ trọng tài thứ nhất và trọng tài thứ hai được thổi còi trong trận đấu : Trọng tài thứ nhất ra hiệu lệnh cho phát bóng bắt đầu pha bóng. Trọng tài thứ nhất và thứ hai ra hiệu kết thúc một pha bóng với điều kiện họ biết rõ phạm lỗi và lỗi gì. + Khi bóng ngoài cuộc, hai trọng tài có thể thổi còi chỉ rõ cho phép hoặc bác bỏ yêu cầu của một cầu thủ. + Ngay sau khi thổi còi ra hiệu kết thúc pha bóng, trọng tài phải ra hiệu tay chính thức. Nếu trọng tài thứ nhất thổi còi bắt lỗi phải chỉ rõ: Đội được phát bóng, tên lỗi, cầu thủ phạm lỗi (nếu cần). Trọng tài thứ hai ra hiệu tay như của trọng tài thứ nhất. Nếu trọng tài thứ hai thổi còi bắt lỗi phải chỉ rõ: Tên lỗi, cầu thủ phạm lỗi (nếu cần). Đội được phát bóng, tên lỗi, ra hiệu tay như của trọng tài thứ nhất. Trong trường hợp này, troọng tài thứ nhất không chỉ rõ tên lỗi và cầu thủ phạm lỗi mà chỉ đội phát bóng. Trường hợp cùng phạm lỗi, cả hai trọng tài chỉ : Tên lỗi, cầu thủ phạm lỗi (nếu cần), trọng tài thứ nhất chỉ đổi được phát bóng.

